Bản án 16/2019/HS-ST ngày 22/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 16/2019/HS-ST NGÀY 22/04/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 22 tháng 4 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:14/ 2019/TLST - HS ngày 19 tháng 3 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2019/ HSST – QĐ ngày 11 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo.

Vì Văn C, sinh năm 1972 tại   xã Y, huyện Mường La, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKNKTT: Bản X, xã Y, huyện Mường La, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; Đoàn thể, đảng phái: Là Đảng viên thuộc chi bộ bản X – Y – Mường La – Sơn La, bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số: 111/QĐ/UBKTHU ngày 16/01/2019 của Ủy ban kiểm tra Đảng, huyện Mường La; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Tiền án, tiền sự: không; con ông Vì Văn Phúc (đã chết) và bà Lò Thị Tan (đã chết). Vợ là Vì Thị Biêng sinh năm 1975, đang chấp hành án tại trại giam ninh khánh, tỉnh Ninh Bình, bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1993 và con nhỏ nhất sinh năm 1999. Bị cáo bị bắt tạm giam giữ từ ngày 31 tháng 12 năm 2018 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Cầm Kim Loan,Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng  19  giờ  20  phút  ngày  31/12/2018  Tổ  công  tác  Công  an  huyện Mường La bắt quả tang tại nhà của Vì Văn Dương (sinh năm 1974) ở bản X,xã Y, huyện Mường La, tỉnh Sơn La,  đối với C đang có hành vi cất giấu trong túi áo khoác bên trái đang mặc trên người 01 gói (gói) bên ngoài gói bằng giấy nilon màu hồng, bên trong chứa các cục chất bột màu trắng, C khai nhận là Heroin mua về mục đích sử dụng cho bản thân.

Tại cơ quan điều tra, bị cáo C khai nhận hành vi phạm tội như sau: vào trưa ngày 30/12/2018 C gặp và mua 01 gói Heroine của 01 người đàn ông dân tộc Mông, không biết tên tuổi, địa chỉ tại khu vực bản X, xã Y, huyện Mường La, tỉnh Sơn La với số tiền 300.000VNĐ (ba trăm nghìn đồng), C mang về nhà sử dụng 04 lần, số Heroin còn lại C gói vào giấy nilon màu hồng cất giấu trong người để sử dụng dần. Đến khoảng 19 giờ 20 phút ngày 31/12/2018, bị cáo C cầm theo gói Heroin đến nhà Vì văn Dương sinh năm 1974 trú tại bản X xã Y, huyện Mường La, tỉnh Sơn La chơi (Dương không ở nhà) thì C bị Công an huyện Mường La bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) gói  bên ngoài gói bằng giấy nilon màu hồng, bên trong chứa các cục chất bột màu trắng.

Ngày 01/01/2019, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường La thành lập Hội đồng mở niêm phong, cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định vật chứng thu giữ của C. Kết quả 01 ( một) gói bên ngoài gói bằng giấy nilon màu hồng bên trong chứa các cục chất bột màu trắng có khối lượng 0,22 gam, lấy ra 0,04 gam làm mẫu giám định, ký hiệu C,

Ngày 01/01/2019, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường La ra QĐ trưng cầu giám định chất ma túy số: 19/QĐTCGĐ đối với mẫu ký hiệu C. có phải là ma túy không, là loại ma túy gì, có trọng lượng là bao nhiêu.

Ngày 03/01/2019 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La ban hành kết luận giám định số: 174 kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu C là ma túy; loại Heroine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,04 gam, tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0,22 gam, loại Heroine”.

Tại bản Cáo trạng số: 178/CT-VKSML ngày 18/03/2019, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo C về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát, giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo C đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”  và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt C từ 18  đến 24   tháng tù giam.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì công văn của Công an huyện Mường La được niêm phong dán kín. Mặt trước ghi: Vật chứng vụ C– Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị bắt ngày  31/12/2018 tại xã Y – Mường La – Sơn La. (Gồm vỏ phong bì cũ + giấy gói cũ +C1) Mặt sau phong bì có 07 dòng chữ ký, 07 dòng họ tên của các thành phần tham gia niêm phong,  và 04 dấu đỏ của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường La tại mép giáp lai của phong bì.

Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

* Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo:

Trong bản luận cứ bào chữa cho bị cáo người bào chữa cho rằng: Bị cáo C là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật kém và sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo. Đề nghị Hội đồng xem xét tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo tại điểm s khoản 1 Điều 51, áp dụng mức hình phạt nhẹ nhất đối với bị cáo cáo, để bị cáo yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.

Bị cáoC, nhất trí với bài bào chữa, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo phát biểu lời bào chữa đưa ra những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo là có căn cứ chấp nhận.

Lời nói sau cùng của các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo C khai nhận vào khoảng 09 giờ 20 phút ngày 31/12/2018 bị cáo đang tàng trữ, cất giữ trong người một gói heroine có trọng lượng là 0,22 gam, với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát bị bắt quả tang.

Xét lời khai, nhận tội của bị cáo, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo C đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,22 gam heroine được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Cáo trạng của Viện kiểm sát huyện Mường La truy tố đối với bị cáo C  về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về hình phạt. Bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức hành vi tàng trữ trái chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào cũng là phạm tội, do bị cáo nghiện ma túy, nên bị cáo đã có hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng dần cho bản thân, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương thuộc loại tội phạm nghiêm trọng. Do vậy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để trừng trị, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không có.

Tình tiết giảm nhẹ, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ biên bản xác minh tài sản của Cơ quan điều tra, gia đình bị cáo không có tài sản gì có giá trị. Xét thấy bị cáo không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung. Do đó hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung, phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Số heroine thu của bị cáo C là 0,22 gam, đã  trích rút lấy 0,04 gam để gửi mẫu giám định, còn lại 0,18 gam, đây là vật nhà nước độc quyền quản lý và sử dụng và cấm lưu hành. Nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với Vì Văn Dương sinh năm 1974 trú tại bản Pi, xã Y, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Khi C đến nhà thì Dương không ở nhà nên không biết việc C cất giấu Heroine trong người nên Dương không vi phạm pháp luật.

Về nguồn gốc số heroine bị cáo C khai đã mua của người đàn ông dân tộc Mông vào trưa ngày 30/12/2018 tại khu vực bản X, xã Y, huyện Mường La. Bị cáo không biết tên tuổi, địa  của người đàn ông đó, việc mua bán trao đổi mua bán ma túy không có ai biết. Ngoài lời khai của bị cáo Cơ quan điều tra Công an huyện Mường La không thu thập được tài liệu chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để mở rộng điều tra vụ án, cần chấp nhận.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định chung. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Vì Văn C, phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý ”

Xử phạt  Vì Văn C 21( hai mươi mốt) tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 31/12/2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung, phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01(một) phong bì công văn của Công an huyện Mường La, được niêm phong dán kín. Mặt trước ghi: Vật chứng vụ Vì Văn C– Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị bắt ngày 31/12/2018 tại Y – Mường La – Sơn La. (Gồm vỏ phong bì cũ + giấy gói cũ +C1) Mặt sau phong bì có 07 dòng chữ ký, 07 dòng họ tên của các thành phần tham gia niêm phong, và 04 dấu đỏ của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường La tại mép giáp lai của phong bì.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/3/2019 giữa Công an huyện Mường La và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La).

3. Về án phí: khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ. án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 22/04/2019


26
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 16/2019/HS-ST ngày 22/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:16/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mường La - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 22/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về