Bản án 16/2019/HS-ST ngày 16/05/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 16/2019/HS-ST NGÀY 16/05/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 16 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2019/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

- Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1980; tên gọi khác: Không; nơi sinh: Tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: Ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1948 (chết) và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1957 (chết); có vợ Trần Thị Ngọc C, sinh năm 1987 và có 01 người con sinh năm 2007; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 15/11/2018 bị Công an xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp xử phạt hành chính số tiền 1.500.000đồng về hành vi đánh bạc trái phép (đánh bài tiến lên) được thua bằng tiền, đã nộp phạt xong; tạm giữ: Không; tạm giam: Không; Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 121/L-PC02 ngày 24/12/2018.

Bị cáo đang tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: 

Phạm Chí H, sinh năm 1980 (vắng mặt)

Nguyễn Quốc H, sinh năm 1996 (vắng mặt)

Trịnh Văn D, sinh năm 1996 (vắng mặt)

Trịnh Văn T, sinh năm 1962 (vắng mặt)

Lại Minh T, sinh năm 1980 (vắng mặt)

Trần Văn C, sinh năm 1968 (vắng mặt)

Trần Văn B, sinh năm 1968 (có đơn xin vắng mặt)

Trương Văn L, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Phan Văn H, sinh năm 1955 (vắng mặt)

Lê Hồng H, sinh năm 1970 (vắng mặt)

Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1984 (vắng mặt)

Huỳnh Văn E, sinh năm 1979 (vắng mặt)

Nguyễn Thanh T, sinh năm 1979 (có đơn xin vắng mặt)

Nguyễn Văn T, sinh năm 1997 (vắng mặt)

Trương Duy L, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Nguyễn Vũ P, sinh năm 1971 (vắng mặt)

Nguyễn Thanh T, sinh năm 1981 (vắng mặt)

Đỗ Bảo T, sinh năm 1996 (vắng mặt)

Bùi Thanh N, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Phan Công M, sinh năm 1978 (vắng mặt)

Phạm Hồng C, sinh năm 1970 (vắng mặt)

Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1980 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Nguyễn Văn N, sinh năm 1977 (vắng mặt)

Dương Văn Đ, sinh năm 1968 (vắng mặt)

Nguyễn Văn X, sinh năm 1991 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp P, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Lâm Thanh U, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Lê Vũ Đ, sinh năm 1970 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Nguyễn Văn H, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Trịnh Thanh H, sinh năm 1972 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp V, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Nguyễn Văn Q, sinh năm 1975 (vắng mặt)

Dương Hoàng G, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Lê Văn U, sinh năm 1982 (có đơn xin vắng mặt)

Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1978 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp X, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Trương Văn H, sinh năm 1973 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Võ Hoàng K, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Trần Văn N, sinh năm 1963 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Phan Thanh N, sinh năm 1981 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 15/11/2018, Nguyễn Văn Đ bị Công an xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng đối với hành vi tham gia đánh bạc (bài tiến lên 13 lá) được thua bằng tiền bị bắt quả tang ngày05/11/2018 tại ấp P, xã A, huyện T, đến ngày 20/11/2018 Đ nộp phạt xong.

Tiếp tục vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 24/11/2018, Nguyễn Văn Đ bị Phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp bắt quả tang tham gia đá gà được thua bằng tiền tại khu đất trống thuộc ấp A, xã Ag, huyện T, tỉnh Đồng Tháp cùng với 29 đối tượng khác.

Tang vật thu giữ tại chiếu bạc gồm: 01 tấm mũ trắng; 01 cân đồng hồ loại 05 kg, hiệu Nhơn Hoà; 09 cuộn băng keo đã qua sử dụng; 02 con gà trống (đã tiêu hủy theo Quyết định số 09/QĐ-THTVPT ngày 25/12/2018 của Công an tỉnh Đồng Tháp) có mang cựa sắt vào chân gà.

Trong quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận: ngày24/11/2018, bị cáo Đ đến địa điểm đá gà do Phạm Chí H (S) tổ chức, tại đây bị cáo tham gia 03 trận gà, cụ thể như sau:

Trận gà 1: gà khét màu trắng vàng đá với gà xám, bị cáo Đ đặt cược bên con gà khét trắng vàng với một người thanh niên lạ mặt số tiền 200.000đồng, thoả thuận 10 ăn 6 (nếu Đ thắng thì được 120.000đồng, nếu thua thì chung 200.000đồng). Kết quả bị cáo Đ thắng được 120.000đồng.

Trận gà 2: gà ô bông đá với gà khét bông, bị cáo Đ đặt cược bên con gà ô bông với một thanh niên lạ mặt, số tiền 100.000đồng, thoả thuận 10 ăn 6. Kết quả bị cáo Đ thắng được 60.000đồng.

Trận gà 3: gà cú lửa màu đen đỏ đá với gà bướm. Bị cáo Đ đặc cược với Võ Hoàng K số tiền 200.000đồng, thì bị bắt quả tang.

Kết quả điều tra xác định tụ điểm đá gà là do Phạm Chí H tổ chức, lấy xâu, H có thuê Trịnh Văn D và Nguyễn Quốc H canh gác hai đầu đường vào điểm đánh bạc, ngày 24/11/2018 H tổ chức 04 trận gà, số tiền dùng đánh bạc dưới mức truy cứu trách nhiệm hình sự, H thu lợi bất chính 300.000đồng, H thu lợi bất chính 600.000đồng, D thu lợi bất chính 400.000đồng.

Tại Cáo trạng số: 15/CT-VKS-TN ngày 05 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn Đ: Khai và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội “Đánh bạc” nêu trên như nội dung cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phân tích các tình tiết cấu thành tội phạm và khẳng định cáo trạng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình theo quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tình tiết tăng nặng không có.

Đối với bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo về chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ giáo dục, răn đe bị cáo trở thành công dân tốt.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 36; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ, về tội "Đánh bạc” hình phạt cải tạo không giam giữ từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng.

Hình phạt bổ sung: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa xét thấy bản thân bị cáo là thành phần lao động phổ thông thu nhập thấp, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền và không khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo cải tạo không giam giữ để sung quỹ Nhà nước.

Vật chứng: Giữ nguyên theo cáo trạng.

Đối với bị cáo Đ số tiền 500.000đồng dùng đánh bạc, 180.000đồng tiền thu lợi bất chính, đề nghị Toà tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với những người liên quan thừa nhận tham gia đánh bạc bằng hình thức đá gà được thua bằng tiền, không có tiền án, tiền sự, tiền dùng đánh bạc dưới mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an tỉnh Đồng Tháp đã ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc được thua bằng tiền nên không đề cập đến. Riêng Phạm Chí H, Trịnh Văn D và Nguyễn Quốc H có dấu hiệu tội tổ chức đánh bạc; tuy nhiên Công an tỉnh Đồng Tháp đã ra quyết định xử phạt hành chính, các đối tượng đã chấp hành xong, hành vi này đã xử lý hành chính nên không xem xét xử lý hình sự.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 24/11/2018 của Công an tỉnh Đồng Tháp; Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cùng toàn bộ chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và những tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất ổn định an ninh trật tự ở địa phương, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Đánh bạc ăn thua bằng tiền là trái phép. Trong thời gian gần đây tệ nạn đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh bài, đá gà, số đề, cá độ bóng đá… diễn ra hết sức phức tạp, đang có chiều hướng gia tăng gây ra nhiều hậu quả xấu cho xã hội. Bản thân bị cáo có đủ khả năng nhận thức được điều này nhưng vì tư lợi và lười biếng lao động nên bị cáo đi đến con đường phạm tội.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình theo quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tình tiết tăng nặng không có.

[4] Xét thấy, về ý thức và hành vi của bị cáo không phải đánh bạc chuyên nghiệp ăn thua bằng tiền mà do bị cáo nhất thời ham vui nên dẫn đến phạm tội. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo và có tác dụng giáo dục phòng ngừa chung theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật Hình sự.

[5] Hình phạt bổ sung: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa xét thấy bản thân bị cáo là thành phần lao động phổ thông thu nhập thấp, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền và không khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo cải tạo không giam giữ để sung quỹ Nhà nước.

[6] Đối với Trịnh Văn T, Lại Minh T, Trần Văn C, Nguyễn Văn X, Trần Văn B, Trương Văn L, Phan Văn H, Lê Hồng H, Nguyễn Tuấn A, Huỳnh Văn E, Nguyễn Thanh T, Nguyễn Văn T, Trương Duy L, Nguyễn Vũ P, Nguyễn Thanh T, Đỗ Bảo T, Phan Công M, Phạm Hồng C, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn N, Dương Văn Đ, Lâm Thanh U, Lê Vũ Đ, Nguyễn Văn H, Trịnh Thanh H, Nguyễn Văn Q, Bùi Thanh N, Dương Hoàng G, Lê Văn U, Nguyễn Ngọc A, Trương Văn H, Võ Hoàng K, Trần Văn N, Phan Thanh N tham gia đánh bạc bằng hình thức đá gà được thua bằng tiền, không có tiền án, tiền sự, tiền dùng đánh bạc dưới mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an tỉnh Đồng Tháp đã ra quyết định xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc được thua bằng tiền xong nên không xem xét xử lý.

[7] Đối với Phạm Chí H, Nguyễn Quốc H, Trịnh Văn D có dấu hiệu tội tổ chức đánh bạc; tuy nhiên Công an tỉnh Đồng Tháp đã ra quyết định xử phạt hành chính, các đối tượng đã chấp hành xong nên không xem xét xử lý.

[8] Đối với số tiền 500.000đồng dùng vào mục đích đánh bạc và 180.000đồng tiền thu lợi bất chính của bị cáo Nguyễn Văn Đ. Xét thấy, số tiền này liên quan đến việc phạm tội buộc bị cáo Đ nộp tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự.

[9] Về vật chứng của vụ án: 01 (một) tấm mũ trắng; 01 (một) cân đồng hồ loại 5 kg, hiệu Nhơn Hoà; 09 (chín) cuộn băng keo đã qua sử dụng; 02 (hai) cặp cựa sắt. Xét thấy, vật chứng trên là chứng cứ, công cụ, phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội: “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 36; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (một) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Nguyễn Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp để giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) tấm mũ trắng; 01 (một) cân đồng hồ loại 5 kg, hiệu Nhơn Hoà; 09 (chín) cuộn băng keo đã qua sử dụng; 02 (hai) cặp cựa sắt.

(Tất cả vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Đồng Tháp đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/4/2019).

3. Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp 680.000đ (Sáu trăm tám mươi nghìn đồng) để tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Án xử công khai có mặt bị cáo; vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


49
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 16/2019/HS-ST ngày 16/05/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:16/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tam Nông - Đồng Tháp
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:16/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về