Bản án 16/2019/HS-ST ngày 15/03/2019 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 16/2019/HS-ST NGÀY 15/03/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 15 tháng 03 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 96/2018/HSST ngày 05 tháng 12 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2018/QĐXXST - HS ngày 20 tháng 12, quyết định hoãn phiên tòa số 01/2019/HSST-QĐ ngày 04 tháng 01 năm 2019, quyết định hoãn phiên tòa số 04/2019/HSST-QĐ ngày 30 tháng 01 năm 2019, quyết định hoãn phiên tòa số 06/2019/HSST-QĐ ngày 28 tháng 02 năm 2019năm 2018 đối với bị cáo:

Trần Văn D, sinh năm 1989 tại M, Đ, Q; nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay : T6, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Q; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa(học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con bà Trần Thị Q; tiền sự: không ; tiền án : 01 tiền án, tại bản án số 41/2017/HSST ngày 22/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh H xử phạt D 1 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, D chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/4/2018, chấp hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm ngày 28/3/2018. Nhân thân: Tại bản án số 11/2013/HSST ngày 31/01/2013 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Q xử phạt Trần Văn D 24 tháng tù về tội Cướp giật tài sản, D đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/8/2014, chấp hành xong án phí hình sự tháng 4/2013. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPVP ngày 22/11/2016 của Công an thành phố U, tỉnh Q xử phạt vi phạm hành chính đối với D về hành vi Trộm cắp tài sản, ngày 28/11/2016 D chấp hành xong quyết định xử phạt.

Bị cáo tạm giữ từ ngày 11/9/2018 đến ngày 14/9/2018 thì tạm giam tạiTrại giam K, Công an tỉnh H. Có mặt.

- Bị hại :

Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1983 và chị Bùi Thị P, sinh năm 1984. Đều có địa chỉ: KDC T, phường H, thành phố C, tỉnh H. Đều vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Trần Thị Q, sinh năm 1966

Địa chỉ: T 6, khu V, phường M, thị xã Đ, tỉnh Q. Có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người làm chứng:

Ông Nguyễn Ánh S, sinh năm 1961.

Địa chỉ: KDC T, phường H, thành phố C, tỉnh H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 11/9/2018, Trần Văn D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Viva, màu sơn xanh, số khung BE42B-V125464, số máy E407- VN125464, không gắn biển kiểm soát(xe D mượn của mẹ đẻ là bà Trần Thị Q) đi đến trước cửa hiệu cơ khí của anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1983 ở khu dân cư T, thành phố C, tỉnh H. D nhìn thấy bộ hàn inox nhãn hiệu Jasic Tig200S gồm máy hàn, dây dẫn khí, đồng hồ dẫn khí, dây kim hàn của chị P anh L để trước cửa nhà, D nảy sinh ý định trộm cắp máy hàn bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. D dừng xe ở vỉa hè, đi vào cửa hàng, gặp chị Bùi Thị P( là vợ anh L), D giả vờ hỏi chị P về việc làm cửa nhôm. Sau khi trả lời, chị P đi vào trong bếp, quan sát xung quanh không có người, D dùng tay bê chiếc máy hàn cùng dây dẫn khí, đồng hồ dẫn khí, dây kìm hàn mang ra để lên võng xe máy và nổ máy đi được 50 mét thì bị chị P phát hiện, hô hào mọi người đuổi theo, bắt giữ D cùng với tang vật và chiếc xe mô tô.

Tại kết luận định giá tài sản số 15/HĐĐG ngày 13/9/2018 của Hội đồng định giá tài sản thành phố C kết luận: 01 bộ máy hàn inox nhãn hiệu JasicTig200S gồm máy hàn, dây dẫn khí, đồng hồ dẫn khí, dây kim hàn tại thời điểm định giá ngày 11/9/2018 có giá trị là: 5.060.000đ.

Tại Cáo trạng số 73/CT-VKSCL ngày 27-10-2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh H đã truy tố Trần Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Tòa án:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; các điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí, lệ phí 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt bị cáo 9 đến 12tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 11/9/2018.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về vật chứng: Không đặt ra giải quyết.Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Bị cáo D phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, VKSND thành phố C, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

 [2] Lời khai của bị cáo Trần Văn D tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng, kết luận định giá và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 11/9/2018, tại trước cửa hiệu cơ khí của anh Nguyễn Văn L ở khu dân cư T, phường H, thành phố C, tỉnh H, Trần Văn D đã lợi dụng sơ hở lấy của anh L chị P 01 bộ máy hàn inox nhãn hiệu Jasic Tg200S gồm: máy hàn, dây dẫn khí, đồng hồ dẫn khí, dây kim hàn tổng giá trị: 5.060.000 đồng thì bị quần chúng nhân dân bắt giữ quả tang nên đủ căn cứ xác định bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Tại bản án 41/2017/HSST ngày 22/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh H xác định bị cáo D đã chấp hành xong phần án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm, chưa chấp hành xong phần bồi thường cho bị hại theo bản án số 11/2013/HSST ngày 31/01/2013 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Q nên bị cáo D phải chịu tình tiết “tái phạm” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự năm 1999. Tuy vậy, theo tài liệu cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C thu thập thể hiện bị cáo D đã chấp hành xong án phí hình sự, án phí dân sự và bồi thường thiệt hại cho bị hại. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố C truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

 [3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã lợi dụng thời điểm chị P không chú ý quan sát, xung quanh không có người, lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt 01 bộ máy hàn inox của anh L chị P trị giá 5.060.000 đồng. Khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cân nhắc các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ sau: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo D thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trước khi thực hiện hành vi phạm tội tại bản án này, bị cáo D phải chấp hành tại bản án trước, chưa chấp hành xong, lại thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu, đã từng phạm tội, phải đi chấp hành án tại trại giam nhiều lần nhưng cũng không lấy đó là bài học mà tiếp tục thực hiện các hành vi phạm tội sau nên cần áp dụng một hình phạt thỏa đáng, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để rèn luyện bị cáo trở thành người có ích, đồng thời răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

 [4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập và tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

 [5] Về vật chứng:

Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát Công an thành phố C đã thu giữ: 01 bộ máy hàn inox nhãn hiệu Jasic Tg200S gồm: máy hàn, dây dẫn khí, đồng hồ dẫn khí, dây kim hàn. Đây là tài sản hợp pháp của anh L, chị P, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã trả lại cho anh Nguyễn Văn L và chị Bùi Thị P là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 47 BLHS. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Viva, màu sơn xanh, số khung BE42B-V125464, số máy E407-VN125464, không gắn biển kiểm soát. Sau khixác minh chủ sở hữu, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã trả lạicác tài sản trên cho bà Trần Thị Q là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS.

 [6] Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn L và chị Bùi Thị P đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Trong vụ án, bà Trần Thị Q không biết D dùng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Viva, màu sơn xanh, số khung BE42B-V125464, số máy E407- VN125464, không gắn biển kiểm soát là tài sản hợp pháp của bà để làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên không đặt ra xem xét xử lý.

[8] Về án phí: Bị cáo D có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của BLTTHS 2015; Luật phí, lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn D phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Xử phạt bị cáo Trần Văn D 14 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 11/9/2018.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.

2. Về xử lý vật chứng: Không đặt ra giải quyết.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn D phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.


86
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 16/2019/HS-ST ngày 15/03/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:16/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Chí Linh - Hải Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:15/03/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về