Bản án 16/2019/HSST ngày 12/04/2019 về tội mua bán hàng cấm

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 16/2019/HSST NGÀY 12/04/2019 VỀ TỘI MUA BÁN HÀNG CẤM

Ngày 12/4/2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phươc xét xử sơ thẩm đối với vụ án hình sự thụ lý số 07/2019/HSST ngày 31 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2019/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2019 đối vớibị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1996; nơi sinh: Gia Lai; HKTT: Thôn R, thị trấn I, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Nhân viên bán hàng; trình độ văn hóa: 10/12; con ông Nguyễn Văn T và bà Phùng Thị V; gia đình bị cáo có 04 người anh chị em, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1998, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; tiền án, tiền sự: không; bị cáo hiện đang tại ngoại, bị cáo có mặt tại phiên tòa;

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo T thường xuyên lên mạng xã hội (Facebook) để làm quen với nhiều đối tượng, trong đó có đối tượng T và đối tượng nữ giới ở tỉnh Gia Lai (chưa rõ nhân thân lai lịch), qua nhiều lần liên lạc, hỏi thăm, bị cáo T với T thỏa thuận: bị cáo T bán cho T 10 hộp pháo hoa loại 49 ống/hộp rồi mang đến xã Đ, huyện Bù Gia Mập giao cho Tý với giá 550.000đ/hộp. Sau khi đã thỏa thuận xong, bị cáo T liên lạc với đối tượng nữ giới ở tỉnh Gia Lai thỏa thuận mua 10 hộp pháo hoa loại 14 ống/hộp với giá 420.000đ/hộp, khi nào T nhắn tin thì gửi xe khách số pháo trên tới xã Đ, huyện Bù Gia Mập cho Tuấn dể Tuấn bán lại kiếm lời thì đối tượng này đồng ý. Chiều ngày 15/11/2018, bị cáo T liên lạc qua mạng xã hội (Facebook) cho đối tượng nữ giới gửi số lượng, chủng loại pháo đến địa điểm như đã thỏa thuận, sau đó bị cáo T liên lạc với đối tượng T đến ngày 16/11/2018 sẽ giao số lượng, chủng loại tại địa điểm như đã thỏa thuận, sau khi liên lạc xong bị cáo T đi xe khách đến xã Đ, huyện Bù Gia Mập nhận pháo. Đến khoảng 17 giờ ngày 16/11/2018, bị cáo T nhận được điện thoại của hãng xe khách (không nhớ rõ tên xe và biển số xe) nói đến chợ xã Đa kia để nhận hàng, bị cáo T liền đi đến nhận 01 thùng cạc tông và trả phí vận chuyển. Sau khi nhận hàng xong, T chuẩn bị đem đi giao cho T thì bị lực lượng công an phát hiện bắt quả tang và thu giữ tang vật.

Bản cáo trạng số 07/CTr-VKS ngày 30 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo khoản 1 Điều 190 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng tù.

Ngoài ra còn đề nghị xử lý về vật chứng theo quy định pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, lời khai của người làm chứng, ý kiến của kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Bù Gia Mập, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản các trang số: 07/CTr-VKS ngày 30 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước đã truy tố đối với bị cáo. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp biên bản phạm tội quả tang, cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: do muốn có tiền tiêu xài vào mục đích cá nhân, nên ngày 13/11/2018 bị cáo liên hệ với một đối tượng nữ (không rõ nhân thân lai lịch) ở tỉnh Gia Lai mua 10 hộp pháo hoa loại 49 ống/01 hộp với giá 420.000đ/hộp rồi đem đến xã Đ, huyện Bù Gia Mập bán cho đối tượng tên Tý (không rõ nhân thân lai lịch) với giá 550.000 đồng/ hộp để hưởng lợi, đến khoảng 17 giờ ngày 16/11/2018 bị cáo đến chợ xã Đ nhận 01 thùng pháo để giao cho T thì bị công an bắt giữ, tổng trọng lượng pháo thu giữ là 16kg pháo nổ.

[3]. Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trên các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lưu thông hàng hóa, quản lý tài sản, tài chính, tài nguyên của đất nước, gây mất an ninh trật tự tại địa phương nơi bị cáo thực hiện việc phạm tội. Vì vậy, Viện kiểm Sát nhân dân huyện Bù Gia Mập đã truy tố bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng với điều khoản quy định của pháp luật.

[4].Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo tuổi đời còn trẻ, bị cáo có bố đã từng công tác trong quân đội, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bố bị cáo bị bệnh năng, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Hội đồng xét xử đã xem xét khi lượng hình đối vớibị cáo.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5].Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, thiết nghĩ không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần áp dụng mức hình phạt tù có điều kiện, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát, quản lý, giáo dục cũng như tạo điều kiện để bị cáo trở thành người có ích cho xã hội sau này.

[6]. Đối với đối tượng tên T và đối tương nữ giới bán pháo cho bị cáo chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra đã tách ra tiếp tục xác minh, điều tra, xử lý sau nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7]. Về vật chứng của vụ án:

- Đối với 10 hộp khối hình hộp, bao bì bằng giấy ghi chữ nước ngoài, mỗi khối có chứa 49 ống giấy hình trụ được nối với nhau thành dàn là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO E7, kiểu máy CPH1819, màu xanh có 02 số Tmel gồm Imel: 869604032518697 và Imel: 869604032518xxx là của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Tmel: 358991091039xxx của bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo [8]. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán hàng cấm”;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng kể từ ngày tuyên án (12/4/2019).

Giao bị cáo Nguyễn Văn T về Uỷ ban nhân dân thị trấn I, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai quản lý và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2.Về xử lý vật chứng:Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tuyên tịch thu tiêu hủy 10 hộp khối hình hộp, bao bì bằng giấy ghi chữ nước ngoài, mỗi khối có chứa 49 ống giấy hình trụ được nối với nhau thành dàn;

Tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO E7, kiểu máy CPH1819, màu xanh có 02 số Tmel gồm Imel: 869604032518xxx và Imel: 869604032518xxx của bị cáo T.

Tuyên trả lại 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số Tmel: 358991091039xxx cho bị cáo T.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.


120
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 16/2019/HSST ngày 12/04/2019 về tội mua bán hàng cấm

Số hiệu:16/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bù Gia Mập - Bình Phước
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 12/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về