Bản án 160/2020/HNGĐ-ST ngày 29/05/2020 về tranh chấp ly hôn và con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA VÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

 BẢN ÁN 160/2020/HNGĐ-ST NGÀY 29/05/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN VÀ CON CHUNG

Trong ngày 29 tháng 5 năm 2020 tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 137 /2020/TLST- HNGĐ, ngày 05 tháng 5 năm 2020 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/5/2020. Giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Thu Th, sinh năm 1995.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu C, sinh năm 1992.

Đều HKTT: Thôn X, xã BT, huyện BV, Thành phố Hà Nội.

( Chị Th, anh C đều có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

+ Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, Bản tự khai ngày 05/5/2020 chị Đỗ Thị Thu Th trình bày: Chị Th kết hôn với anh Nguyễn Hữu C trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã BT, huyện BV, ngày 09/9/2016. Sau khi kết hôn chị Th và anh C về chung sống với nhau cùng gia đình nhà anh C tại thôn X, xã BT. Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được 02 năm thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh C ham chơi lô đề, cờ bạc, không quan tâm đến vợ con, quan niệm sống và cách nhìn nhận cuộc sống không phù hợp, mặc dù hai bên đã đã rất cố gắng, hai gia đình cũng đã can thiệp nhưng chị Th, anh C vẫn không kiềm chế được nỗi bức xúc mỗi khi cùng chung sống trong cùng một mái nhà, nay chị Th xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng đã sống ly thân thời gian dài từ tháng 3 năm 2020 đến nay, chị Th xin được ly hôn anh C.

+ Về con chung: Có 01con chung; cháu Nguyễn Ngọc Tú A, sinh ngày 26/3/2017, hiện cháu Nguyễn Ngọc Tú A đang ở với chị Th. Khi ly hôn chị Th có nguyện vọng xin được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Tú A đến trưởng thành và chị Th không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện chị Th có công việc ổn định, là giáo viên mầm non, có xác nhận của đơn vị công tác, thu nhập 6.500.000đ/tháng, chị Th xác định đủ điều kiện nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Tú A tốt nhất.

+ Về tài sản chung, riêng, công sức : Chị Th xác định không có.

+ Về công nợ chung: Chị Th xác định không có.

- Tại bản tự khai ngày 11/5/2020 anh Nguyễn Hữu C trình bay: Anh C kết hôn với chị Đỗ Thị Thu Th vào tháng 9 năm 2016 và được gia đình tổ chức hợp pháp và tự nguyện, có đang ký kết hôn tại UBND xã BT, huyện BV ngày 09/9/2016, sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống cùng gia đình nhà anh C tại thôn 6, xã BT, huyện BV, vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được khoảng 02 năm thì xảy ra mâu thuẫn cãi vã, anh C cảm nhận được chị Th lạnh nhạt và không còn tình cảm với anh C, anh C vẫn yêu thương vợ con đã níu kéo nhiều lần nhưng không được và chị Th vẫn kiên quyết ly hôn, anh C đành chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Th.

- Về con chung: Có 01con chung; cháu Nguyễn Ngọc Tú A, sinh ngày 26/3/2017 , hiện cháu Nguyễn Ngọc Tú A đang ở với chị Th. Khi ly hôn anh C có nguyện vọng xin được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Tú A đến trưởng thành và anh C không yêu cầu chị Th phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hiện anh C có công việc đang làm 01 cửa hàng làm tóc và kinh doanh mỹ phẩm tại nhà, thu nhập khoảng từ 15 đến 20 triệu/tháng, anh C xác định đủ điều kiện nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Tú A tốt nhất.

- Về tài sản chung, riêng , công sức: Anh C xác định không có.

- Về công nợ: Anh C xác định không có.

Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, đã tiến hành hòa giải cho các đương sự nhiều lần nhưng không thành. Tại phiên tòa hôm nay chị Đỗ Thị Thu Th và anh Nguyễn Hữu C đều vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình về hôn nhân, con chung, tài sản chung, riêng,công sức, công nợ.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Vì có quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, thư ký, về xác định thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định tư cách tố tụng của các đương sự, thu thập tài liệu chứng cứ, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ và hòa giải vụ án, việc chấp hành thời hạn xét xử, việc cấp tống đạt, niêm yết văn bản tố tụng, việc gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc tuân theo pháp luật của HĐXX, Thư ký Tòa án tại phiên tòa, đều tuân thủ đúng và đầy đủ theo trình tự pháp luật tố tụng dân sự quy định.

Về đường lối giải quyết vụ án. Về hôn nhân: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Th và anh C đã trầm trọng kéo dài, chị Th và anh C đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, đều đồng ý ly hôn, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị Th, cho chị Th được ly hôn anh C.

Về con chung : chị Th và anh C có 01con chung; cháu Nguyễn Ngọc Tú A, sinh ngày 26/3/2017, hiện nay cháu Tú Anh đang ở cùng chị Th, xét thấy hiện cháu Tú Anh mới được hơn 38 tháng tuổi, giới tính nữ, độ tuổi rất cần sự chăm sóc, thương yêu của người mẹ, mặt khác chị Th hiện nay là giáo viên mầu non rất phù hợp và thuận lợi cho việc dạy dỗ chăm sóc con nhỏ, chị Th có thu nhập ổn định 6.500.000đ/tháng có xác nhận bảng lương của cơ quan công tác, mặc dù anh C khai công việc có cửa hàng làm tóc, thu nhập 15tr đến 20tr/tháng nhưng anh C không có tài liệu chứng cứ chứng minh, mặt khác cháu Tú A giới tính nữ, cần thiết phải được người mẹ dạy dỗ quan tâm về giới tính, vì vậy Viện kiểm sát đề nghị HĐXX xem xét giao cháu Nguyễn Ngọc Tú A cho chị Th tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp pháp luật, bảo đảm quyền lợi cho phụ nữ và trẻ em được luật hôn nhân gia đình bảo vệ, ghi nhận sự tự nguyện của chị Th không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, riêng, công sức, công nợ: Chị Th và anh C đều xác nhận không có. Về án phí chị Th phải chịu án phí LHST theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở ý kiến phát biểu đề nghị của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy: Hôn nhân giữa chị Đỗ Thị Thu Th và anh Nguyễn Hữu C là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã BT, huyện BV ngày 09/9/2016. Sau khi kết hôn, chị Th và anh C về chung sống với nhau hạnh phúc được hơn 02 năm thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do quan điểm sống bất đồng, không tôn trọng nhau, vợ chồng đã xảy ra cãi vã xúc phạm nhau, do mâu thuẫn vợ chồng chị Th đã về nhà bố mẹ đẻ sống, do vậy vợ chồng đã sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ tình cảm từ tháng 4 năm 2020 đến nay, nay chị Th và anh C đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng kéo dài, sống không có hạnh phúc, chị Thvà anh C đều tự nguyện xin được ly hôn, do vậy HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Th với anh C, cho chị Th được ly hôn anh C là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

- Về con chung: Chị Đỗ Thị Thu Th và anh Nguyễn Hữu C đều thừa nhận có 01 con chung; cháu Nguyễn Ngọc Tú A, sinh ngày 26/3/2017, hiện cháu Nguyễn Ngọc Tú A đang ở với chị Th. Xét nguyện vọng về việc xin nhận nuôi dưỡng con chung của chị Th và anh C là hợp pháp, thể hiện trách nhiệm của người làm cha mẹ đối với con chưa thành niên. HĐXX xét thấy hiện cháu Tú Anh mới được hơn 38 tháng tuổi, giới tính nữ, độ tuổi rất cần sự chăm sóc, thương yêu của người mẹ, mặt khác chị Th hiện nay là giáo viên mầu non rất phù hợp và thuận lợi cho việc dạy dỗ chăm sóc con nhỏ, chị Th có thu nhập ổn định 6.500.000đ/tháng có xác nhận bảng lương của cơ quan công tác là Trường mầm non TTĐL HT, mặc dù anh C khai công việc có 01 cửa hàng làm tóc, thu nhập 15tr đến 20tr/tháng nhưng anh C không có tài liệu chứng cứ chứng minh thu nhập thực tế, mặt khác cháu Tú A giới tính nữ, cần thiết phải được người mẹ dạy dỗ quan tâm về giới tính, do vậy HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị Th về việc xin nhận nuôi dưỡng con chung, giao cháu Nguyễn Ngọc Tú A cho chị Th tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp pháp luật, bảo đảm quyền lợi cho phụ nữ và trẻ em được luật hôn nhân gia đình bảo vệ là có căn cứ, đúng pháp luật. Bác yêu cầu của anh C về việc xin nuôi dưỡng con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị Th không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con chung, do vậy HĐXX xét tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh C cho đến khi chị Th có yêu cầu hoặc có thay đổi khác.

Anh Nguyễn Hữu C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung, riêng ,công sức: Chị Th và anh C đều xác nhận không có.

Về công nợ chung: Chị Th và anh C đều xác nhận không có.

Án phí: Chị Đỗ Thị Thu Th phải nộp án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình 2014. Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Điều 25 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội

1/ Xử : Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị Thu Th đối với anh Nguyễn Hữu C. Cho chị Đỗ Thị Thu Th được ly hôn anh Nguyễn Hữu C.

2/ Về con chung: Có 01 con chung; cháu Nguyễn Ngọc Tú A, sinh ngày 26/3/2017.

- Giao cho chị Đỗ Thị Thu Th được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Ngọc Tú A, sinh ngày 26/3/2017, cho đến khi cháu Nguyễn Ngọc Tú A tròn 18 tuổi hoặc có yêu cầu thay đổi khác.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung : Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Hữu C cho đến khi chị Đỗ Thị Thu Th có yêu cầu hoặc có thay đổi khác.

- Anh Nguyễn Hữu C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3/ Về tài sản chung, riêng, công sức : Không có.

4/ Về công nợ : Không có.

5/ Án phí : Chị Đỗ Thị Thu Th phải chÞu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ toàn bộ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Th đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009980 ngày 05/5/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.

6/ Quyền kháng cáo: Chị Đỗ Thị Thu Th và anh Nguyễn Hữu C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

58
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án 160/2020/HNGĐ-ST ngày 29/05/2020 về tranh chấp ly hôn và con chung

Số hiệu:160/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ba Vì - Hà Nội
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:29/05/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về