Bản án 160/2020/HNGĐ-ST ngày 21/10/2020 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 160/2020/HNGĐ-ST NGÀY 21/10/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 21 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 143/2020/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2020 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 194/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 9 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 268/2020/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 10 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mộng M, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn 4 xã Mỹ Đ, huyện Thủy Ng, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (đề nghị xét xử vắng mặt);

- Bị đơn: Anh Lê Văn H, sinh năm 1986; ĐKNKTT: Thôn 4 xã Mỹ Đ, huyện Thủy Ng, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Australia; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn nộp ngày 31-7-2020 và các văn bản khác, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mộng M trình bày:

Chị M và và anh Lê Văn H tự nguyện chung sống với nhau và có một con chung là Lê Bảo Ng. Sau khi sinh con chung, đã đăng ký khai sinh cho con chung tên bố là anh Lê Văn H và tên mẹ là chị M. Đến ngày 11/6/2015, chị M và anh H mới có điều kiện làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Đ, huyện Thủy Ng, thành phố H Phòng. Sau khi kết hôn, chị M và anh H chung sống cùng gia đình anh H tại thôn 4 xã Mỹ Đ, huyện Thủy Ng, thành phố Hải Phòng. Quá trình vợ chồng chung sống, đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do tính cách và quan điểm sống không phù hợp. Do mâu thuẫn nên đến cuối năm 2016 anh H đã bỏ đi làm ăn. Sau một thời gian thì anh H thông báo cho chị M và người thân là đã sang Australia sinh sống. Từ đó đến nay, anh H thỉnh thoảng liên lạc với gia đình nhưng vì anh H cư trú bất hợp pháp, thường xuyên H thay đổi nơi ở nên chị M và gia đình không biết địa chỉ cụ thể của anh H. Từ khi anh H sang Australia đến nay, anh H không còn quan tâm và không có trách nhiệm gì với chị M và con chung. Nay nhận thấy tình cảm đối với anh H không còn, cuộc sống hôn nhân không có tương lai nên chị M đề nghị Tòa án giải quyết cho chị M được ly hôn với anh H để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có một con chung như đã trình bày. Ly hôn, chị M có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung. Sau này, nếu anh H có nguyện vọng được nuôi con thì chị M đồng ý giao con chung cho anh H nuôi dưỡng. Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết về tiền cấp dưỡng nuôi con chung.

Về quan hệ tài sản chung: Chị M trình bày quá trình chung sống không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Mộng M và anh Lê Văn H đều vắng mặt. Chị M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai.

Đi diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Mâu thuẫn giữa chị M và anh H đã sâu sắc, không còn khả năng khắc phục nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị M; về quan hệ nuôi con chung: Xử giao con chung là Lê Bảo Ng, sinh ngày 11 tháng 7 năm 2013 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng; về tiền cấp dưỡng nuôi con chung và quan hệ tài sản chung, chị M không yêu cầu nên không đặt vấn đề giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Quan hệ tranh chấp của vụ án về việc ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm e khoản 1 Điều 192, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2] Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành niêm yết hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa của Tòa án cho anh H; đồng thời tống đạt các văn bản nêu trên cho gia đình anh H. Người thân của anh H xác nhận đã thông báo lại nội dung văn bản cho anh H, anh H đồng ý nhưng anh H không gửi văn bản ý kiến về. Tại phiên tòa, anh H vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do; việc vắng mặt của anh H thuộc trường hợp bị đơn cố ý giấu địa chỉ, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, điểm e khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về yêu cầu của đương sự:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị M và anh H kết hôn do tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Đ, huyện Thủy Ng, thành phố Hải Phòng ngày 11 tháng 6 năm 2015 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng, những năm đầu hòa thuận, nhưng kể từ năm 2016, quan hệ vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Anh H ký hợp đồng lao động đi tàu với chức danh Thuyền phó 2 với Công ty TNHH Dịch vụ Hàng Hải và Thương mại Thanh Hà. Ngày 29/01/2016 Công ty TNHH Dịch vụ Hàng Hải điều động anh H nhập tàu MV MUTSU- Quốc tịch Panama theo Quyết định số 17/2016QĐTV ký ngày 27/01/2016 với chức danh Thuyền phó 2. Ngày 09/8/2016 khi tàu đang dỡ hàng tại Cảng Gorbat-Úc, anh H xin phép rời tàu, sau đó không quay trở lại tàu. Ngày 23/9/2016, Công ty TNHH Dịch vụ Hàng Hải đã thông báo cho bố đẻ của anh H là ông Lê Văn K biết về việc này. Tại Công văn số 13481/QLXNC-P5 ngày 12/8/2020 của Cục quản lý xuất nhập cảnh – Bộ Công an xác nhận anh Lê Văn H đã xuất nhập cảnh 03 lần, xuất cảnh gần nhất ngày 28/01/2016, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Từ đó đến nay, anh H không còn quan tâm đến chị M và con chung. Hiện tại, anh H vẫn thường xuyên liên lạc với bố mẹ đẻ của anh H qua điện thoại. Bố mẹ đẻ của anh H đã thông tin cho anh H biết hiện Tòa án đang giải quyết việc ly hôn giữa anh H và chị M, quan điểm của anh H là đồng ý nhưng không gửi văn bản thể hiện ý kiến của mình. Bố mẹ đẻ anh H cho biết họ không biết địa chỉ cụ thể của anh H tại Australia và cũng không xác định được đến thời điểm nào anh H mới về Việt Nam. Nay chị M nhận thấy quan hệ vợ chồng không có tương lai, nếu kéo dài chỉ gây khó khăn cho cuộc sống của mỗi người nên yêu cầu được ly hôn để ổn định cuộc sống. Xét thấy, yêu cầu của chị M phù hợp với thực tế tình trạng gia đình, mối quan hệ giữa chị M, anh H và phù hợp với quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận.

[4] Về quan hệ nuôi con chung: Chị M và anh H có một con chung là Lê Bảo Ng, sinh ngày 11 tháng 7 năm 2013. Hiện con chung đang được chị M trực tiếp nuôi dưỡng. Nay ly hôn, chị M có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, yêu cầu của chị M về việc nuôi con chung là phù hợp với điều kiện thực tế của các bên đương sự, phù hợp với nguyện vọng của con chung Lê Bảo Ng; đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của con chung và phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận. Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung, chị M không yêu cầu nên không đặt ra vấn đề giải quyết. Anh H có quyền thăm nom con, chị M không được cản trở anh H thực hiện quyền này - Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[5] Về quan hệ tài sản chung: Chị M trình bày quá trình chung sống không có tài sản chung, không yêu cầu nên không đặt ra vấn đề giải quyết.

- Về án phí sơ thẩm:

[6] Chị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật - Điều 146, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào điểm e khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 146, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Mộng M;

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Mộng M được ly hôn với anh Lê Văn H.

2. Về quan hệ nuôi con chung: Xử giao con chung là Lê Bảo Ng, sinh ngày 11 tháng 7 năm 2013 cho chị Nguyễn Thị Mộng M được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung, chị Nguyễn Thị Mộng M không yêu cầu nên không đặt vấn đề giải quyết.

Anh Lê Văn H có quyền thăm nom con, chị Nguyễn Thị Mộng M không được cản trở anh Lê Văn H thực hiện quyền này. Anh Lê Văn H không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về quan hệ tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Mộng M xác nhận không có tài sản chung, không yêu cầu nên không đặt ra vấn đề giải quyết.

4. Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Mộng M phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đông (Ba trăm nghin đông ) được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đông theo Biên lai thu tạm ứng án phí , lệ phí Toà án sô 0008672 ngày 31-7-2020 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng . Chị Nguyễn Thị Mộng M đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ, chị Nguyễn Thị Mộng M có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Trong thơi han 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật, anh Lê Văn H có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.


27
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 160/2020/HNGĐ-ST ngày 21/10/2020 về ly hôn

Số hiệu:160/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:21/10/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về