Bản án 159/2020/HSST ngày 04/06/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 159/2020/HSST NGÀY 04/06/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 04 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định. Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 133/2020/TLST-HS ngày 24-4-2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2020/QĐ-HSST ngày 19-5-2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trịnh Ngọc H, sinh năm 1964 tại tỉnh Nam Định; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số nhà 450 đường N, phường Trần Q, thành phố N, tỉnh Nam Dịnh; chỗ ở: Tổ 2, Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề ngH: Tự do; trình độ văn hoá: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Đức H và bà Lê Thị T; có vợ Đoàn Thị M (đã chết) và có 01 con; tiền án: Ngày 07-7-2008 Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 21-4-2017 Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 21-01-1989 Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản công dân”. Ngày 18-4-2005 Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phúc thẩm phạt 36 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 22-01-2016 Công an phường Cửa Nam, thành phố N xử phạt vi phạm hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi “Gây mất an ninh trật tự”. Ngày 23-8-2016 Công an phường Cửa Nam, thành phố N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04 tháng 3 năm 2020 sau đó chuyển tạm giam đến nay Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định; bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người làm chứng: Anh Phạm Hồng Vũ và anh Nguyễn Văn Quân (vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 03-3-2020 Tổ công tác Công an phường P, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực ngõ 1 đường Đ, phường C, thành phố N phát hiện Trịnh Ngọc H đang đi bộ một mình có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, H đã thả từ tay trái xuống đất 02 gói nhỏ bằng giấy bạc màu trắng. Tổ công tác đã kịp thời phát hiện, thu giữ, mở kiểm tra bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng (H khai là Heroine mua về sử dụng). Tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng sau đó đưa H cùng những người làm chứng về trụ sở Công an phường P, thành phố N lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật.

Bản kết luận giám định số: 267/GĐKTHS ngày 06-3-2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định đã kết luận: Mẫu vật thu giữ của Trịnh Ngọc H được niêm phong gửi giám định đều là ma túy, loại ma túy: Heroine, có tổng khối lượng: 0,236 gam (không phẩy hai ba sáu gam).

Tại Cơ quan điều tra: Trịnh Ngọc H đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mục đích để sử dụng và khai nhận nguồn gốc gói ma túy bị thu giữ trên như sau: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 03-3-2020, H đi bộ từ nhà đến một nhà ở xóm bờ sông (không rõ địa chỉ cụ thể) gần khu vực đền C, xã N, thành phố N mục đích mua ma túy về sử dụng. Khi tới nơi, H thấy nhà đóng cửa nên đã gõ cửa và đưa 100.000 đồng qua khe cửa mua 02 gói Heroine rồi cầm trong tay trái đi bộ về để sử dụng. Khi H đi đến số nhà 7 ngõ 1 đường Đ, phường C, thành phố N thì bị phát hiện, bắt giữ.

Bản Cáo trạng số 131/CT-VKSTPNĐ ngày 23-4-2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Trịnh Ngọc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Trịnh Ngọc H xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị Cơ quan tiến hành tố tụng ép cung, bức cung hay nhục hình. Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã nêu là đúng và khai nhận biết rõ hành vi cất giữ trái phép ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do nghiện ma túy nên đã tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng cho bản thân. Bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới và ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trịnh Ngọc H theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Trịnh Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Phạt bị cáo Trịnh Ngọc H từ 06 năm tù đến 06 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý đã thu giữ của bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Lời khai nhận tội của bị cáo Trịnh Ngọc H có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ vật chứng; bản kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ nên đã có đủ cơ sở kết luận khoảng 19 giờ 30 phút ngày 03-3-2020, tại khu vực ngõ 1 đường Đ, phường C, thành phố N, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,236 gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn thành phố N, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã có 02 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nên phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Việc truy tố và đưa ra xét xử bị cáo theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

[3] Các tình tiết Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi Quyết định hình phạt đối với bị cáo:

[3.1] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng là người có nhân thân xấu.

[4] Từ những phân tích, đánh giá nêu trên đối với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”. Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: 01 gói ma túy trong phong bì niêm phong số 267/GĐKTHS là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Trịnh Ngọc H Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đang tiến hành xác minh nên tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Tuyên bố bị cáo Trịnh Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Xử phạt bị cáo Trịnh Ngọc H 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày 04 tháng 3 năm 2020.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong phong bì niêm phong số 267/GĐKTHS (vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 16 tháng 4 năm 2020 giữa Công an thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N).

3. Án phí: Bị cáo Trịnh Ngọc H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Trịnh Ngọc H được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 159/2020/HSST ngày 04/06/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:159/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Nam Định - Nam Định
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 04/06/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về