Bản án 157/2019/HSST ngày 31/05/2019 về tội tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 157/2019/HSST NGÀY 31/05/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ VÀ MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 31 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 121/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2019/HSST-QĐ ngày 16 tháng 5 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Lê Văn Th, sinh năm 1977 tại tỉnh Thanh Hóa; thường trú: Thôn C, xã X D, huyện Nh Th, tỉnh Thanh Hóa; chỗ ở: Số 136A/10 khu phố T L, phường T Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Hồng L (đã chết) và bà Lê Thị L, sinh năm 1959; bị cáo có vợ tên Trần Thị M, sinh năm 1979; bị cáo có 02 con ruột, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 26/12/2018 cho đến nay, có mặt.

2. Trần Đan Ch, sinh năm 1981 tại tỉnh Nam Định; thường trú: Số 59H/10 khu phố B Đ, phường B H, thị xã Th A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Đăng S, sinh năm 1949 và bà Trần Thị L, sinh năm 1957; bị cáo 01 em ruột, sinh năm 1985; bị cáo có vợ tên Phạm Thị Ph, sinh năm 1985, có 01 con ruột, sinh năm 2003; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 06/7/2018 bị Tòa án nhân dân thị xã Th A, tỉnh Bình Dương ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng, theo Quyết định số 85/2018/QĐ-TA; Nhân thân: Ngày 26/9/2014, bị Tòa án nhân dân thị xã Th A, tỉnh Bình Dương xử phạt 07 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, theo Bản án hình sự số 375/2014/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/12/2014; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 26/12/2018 cho đến nay, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Bà Trần Thị Quỳnh Tr, sinh năm 1985; thường trú: Số 36/32 đường D1, khu phố Th Nh 1, phường D A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương, có mặt.

2. Ông Trần Thiện M, sinh năm 1949; thường trú: T/thế QL64, xã X Đ, huyện T L, thành phố Hà Nội; chỗ ở: khu phố B Đ, phường B H, thị xã Th A, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Người chứng kiến: Ông Trần Tuấn A, sinh năm 1978.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 26/12/2018, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Trần Đan Ch sử dụng điện thoại sim số 0933879755 gọi đến điện thoại di động sim số 0354856563 của Lê Văn Th để hỏi mua ma túy. Lúc này, Ch điều khiển xe mô tô hiệu Honda màu trắng đen, biển số 29X5-3027 đến nhà của Th tại địa chỉ số 136/10A khu phố T L, phường T Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương thì gặp Th và mua của Th 02 đoạn ống hút nhựa hàn kín chứa ma túy với giá 200.000 đồng. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, khi Ch đang cầm ma túy ở trên tay trái và điều khiển xe mô tô biển số 29Z5-3027 để tìm nơi sử dụng ma túy, khi Ch ra đến đầu hẻm nhà số 136/10A khu phố T L, phường T Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng tuần tra Công an phường T Đ H thấy có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện bên trong bàn tay trái của Ch có 02 đoạn ống hút nhựa hàn kín chứa ma túy nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang cùng tang vật.

Ngày 26/12/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D A, tỉnh Bình Dương tiến hành khám xét khẩn cấp đối với nhà của Lê Văn Th tại địa chỉ số 136/10A khu phố T Lo, phường T Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương, phát hiện trong nhà của Th có 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín chứa ma túy, 01 cân tiểu ly, 01 ống kim tiêm đã qua sử dụng, 01 nỏ ống thủy tinh đã qua sử dụng, 20 ống hút nhựa, Lê Văn Th khai nhận số ma túy trên Th mua của một người tên T ( chưa rõ nhân thân, lai lịch) Vật chứng thu giữ: 03 (ba) đoạn ống hút nhựa hàn kín chứa tinh thể màu trắng, 01 (một) cân tiểu ly, 01 (một) ống kim tiêm đã qua sử dụng, 01 (một) nỏ ống thủy tinh đã qua sử dụng, 20 (hai mươi) ống hút nhựa, 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo có sim số 0354856563, 01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel có sim số 0933879755 và 01 (một) xe mô tô hiệu Honda màu trắng đen, biển số 29Z5-3027.

Căn cứ Kết luận giám định số 75/MT-PC09 ngày 02/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng trong 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín thu được tại nhà của Lê Văn Th gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,1046 gam, loại Heroine.

Căn cứ Kết luận giám định số 76/MT-PC09 ngày 02/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng trong 02 đoạn ống hút nhựa hàn kín thu giữ của Trần Đan Ch gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,2010 gam, loại Heroine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì Kết luận giám định số 75/MT-PC09 ngày 02/01/2019 và Kết luận giám định số 76/MT-PC09 ngày 02/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương.

Đối với tên T bán ma túy cho Lê Văn Th, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D A tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda màu trắng đen, biển số 29Z5-3027 là của bà Trần Thị Quỳnh Tr cho Trần Đan Ch mượn làm phương tiện đi lại, không biết Ch sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D A, tỉnh Bình Dương đã trả lại xe trên cho bà Tr.

Cáo trạng số 144/CT-VKS ngày 18 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và bị cáo Trần Đan Ch về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 251; điểm s, x khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Lê Văn Th từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Trần Đan Ch từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” *Về xử lý vật chứng:

- Đối 01 (một) bì thư đã niêm phong bên trong chứa ma túy, loại Heroine, mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1416 gam; 01 (một) bì thư đã niêm phong bên trong chứa ma túy, loại Heroine, mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,0720 gam và 01 (một) cân tiểu ly, 01 (một) ống kim tiêm đã qua sử dụng, 01(một) nỏ ống thủy tinh đã qua sử dụng, 20 (hai mươi) ống hút nhựa, các sim số 0354856563, 0933879755 là vật cấm lưu thông, công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo của Lê Văn Th, 01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel của Trần Đan Ch, sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt đồng thời bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về nội dung: Khoảng 09 giờ ngày 16/12/2018, tại đầu hẻm nhà số 136/10A khu phố T L, phường T Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương, lực lượng tuần tra Công an phường T Đ H thấy Trần Đan Ch có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra hành chính, phát hiện bên trong bàn tay trái của Chung có 02 đoạn ống hút nhựa hàn kín chứa thể màu trắng, Ch khai nhận là ma túy và vừa mới mua của Lê Văn Th. Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tiến hành khám xét khẩn cấp đối với nhà của Lê Văn Th tại địa chỉ số 136/10A khu phố T L, phường T Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương, phát hiện trong nhà của Thị có 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín chứa ma túy, 01 cân tiểu ly, 01 ống kim tiêm đã qua sử dụng, 01 nỏ ống thủy tinh đã qua sử dụng, 20 ống hút nhựa. Th khai nhận khoảng 08 giờ 40 phút ngày 16/12/2018 tại nhà số 136/10A khu phố T L, phường T Đ H, thị xã D A, tỉnh Bình Dương, Th đã bán cho Trần Đan Ch 02 đoạn ống hút nhựa hàn kín chứa ma túy, còn 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín chứa tinh thể màu trắng thu giữ tại chỗ ở của Th là ma túy, Th tàng trữ mục đích để sử dụng.

Căn cứ Kết luận giám định số 75/MT-PC09 ngày 02/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng trong 01 đoạn ống hút nhựa hàn kín thu được tại nhà của Lê Văn Th gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,1046 gam, loại Heroine.

Căn cứ Kết luận giám định số 76/MT-PC09 ngày 02/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng trong 02 đoạn ống hút nhựa hàn kín thu giữ của Trần Đan Ch gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,2010 gam, loại Heroine.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục mua bán, vận chuyển, sản xuất trữ trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: … c) Heroine, Cocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; …” Theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì “Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

[2] Như vậy, hành vi trên đây của bị cáo Trần Đan Ch tàng trữ ma túy loại Heroine có khối lượng 0,2010 gam, mục đích tàng trữ để sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và bị cáo Lê Văn Th tàng trữ ma túy loại Heroine có khối lượng 0,1046 gam, mục đích tàng trữ để sử dụng đồng thời bị cáo bán 02 đoạn ống hút nhựa hàn kín chứa ma túy loại Heroine cho Trần Đan Ch nhằm mục đích thu lợi bất chính đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy”. Do đó, Cáo trạng số 144/CT-VKS ngày 18 tháng 4 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Trần Đan Ch về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Lê Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; các bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Để có ma túy sử dụng mà các bị cáo đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và để có tiền sử dụng ma túy mà bị cáo Lê Văn Th đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành những công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

[4] Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, có tính chất đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn nên không xác định là tội phạm có tổ chức, cụ thể: Các bị cáo là người tàng trữ ma túy, mục đích để sử dụng.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo Lê Văn Th có cha là ông Lê Văn L là Liệt sĩ nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo Trần Đang Ch có cha là ông Trần Đăng S là thương binh 4/4 , đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2017 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[7] Về nhân thân: Các bị cáo là người có nhân thân xấu thể hiện các bị cáo là người nghiện ma túy. Bị cáo Lê Đan Ch có tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đã từng bị Tòa án xử phạt về hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, đã được xóa án tích nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[8] Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, ma túy là tiền đề của các tội trộm cắp, cướp giật, giết người và nhiều tội phạm khác đồng thời các bị cáo là người nghiện ma túy. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo cá bị cáo thành những công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

[9] Về xử lý vật chứng:

- Xét 01 (một) bì thư đã niêm phong bên trong chứa ma túy, loại Heroine, mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1416 gam; 01 (một) bì thư đã niêm phong bên trong chứa ma túy, loại Heroine, mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,0720 gam và 01 (một) cân tiểu ly, 01 (một) ống kim tiêm đã qua sử dụng, 01 (một) nỏ ống thủy tinh đã qua sử dụng, 20 (hai mươi) ống hút nhựa, các sim số 0354856563, 0933879755 là vật cấm lưu thông, công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Xét 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo của Lê Văn Th, 01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel của Trần Đan Ch, sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

[10] Đối với tên T bán ma túy cho Lê Văn Th, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau và đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda màu trắng đen, biển số 29Z5- 3027 là của bà Trần Thị Quỳnh Tr cho Trần Đang Ch mượn làm phương tiện đi lại, không biết Ch sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D A, tỉnh Bình Dương đã trả lại xe trên cho bà Tr là đúng theo quy định của pháp luật.

[11] Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[12] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[13] Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Trần Đan Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Lê Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy”.

1.1 Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Trần Đan Ch 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2018.

1.2 Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, x khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Lê Văn Th 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

1.2.1 Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Lê Văn Th 02 (hai) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

1.2.2 Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tổng hợp hình phạt cả 02 tội, buộc bị cáo Lê Văn Th phải chấp hành chung là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2018.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư đã niêm phong bên trong chứa 0,1416 gam ma túy Heroine; 01 (một) bì thư đã niêm phong bên trong chứa 0,720 gam ma túy Heroine, 01 (một) cân tiểu ly, 01 (một) ống kim tiêm đã qua sử dụng, 01 (một) nỏ ống thủy tinh đã qua sử dụng, 20 (hai mươi) ống hút nhựa, các sim số 0354856563 và 0933879755.

- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, 01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel (điện thoại hiệu Oppo đã bị bể màng hình không kiểm tra được tình trạng bên trong).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/4/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An với Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An).

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Các bị cáo Lê Văn Th, Trần Đan Ch, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt bản án hợp lệ./.


112
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 157/2019/HSST ngày 31/05/2019 về tội tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:157/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Dĩ An - Bình Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 31/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về