Bản án 156/2019/HS-PT ngày 26/09/2019 về tội vận chuyển hàng cấm

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 156/2019/HS-PT NGÀY 26/09/2019 VỀ TỘI VẬN CHUYỂN HÀNG CẤM

Ngày 26/9/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên toà công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 115/2019/TLPT-HS ngày 16 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo Trương Thị X do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 35/2019/HSST ngày 08/07/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, Tp Đà Nẵng.

Bị cáo có kháng cáo: Trương Thị X (Tên gọi khác: Trương Thị B), sinh năm 1965 tại Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: thôn C, xã H, huyện L, tỉnh Thừa Thiên Huế; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 3/12; Nghề nghiệp: buôn bán; Con ông Trương T (đã chết) và Bà Mai Thị B (đã chết) ; Tiền án: không; Tiền sự: Không; Nhân thân:

-Ngày 1/12/2005, bị TAND TX.Phan Rang-Tháp Chàm tỉnh Ninh Thuận xử phạt 3 năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 42 tháng về tội “Buôn bán hàng cấm” theo khoản 2 Điều 155 BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 tại bản án số 55/2005/HSST.

-Ngày 15/1/2013, bị TAND quận Liên Chiểu, Tp Đà nẵng xử phạt 12 tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm” theo khoản 1 Điều 155 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 tại Bản án số 03/2013/HSST.

Ngày 31/5/2016, bị TAND huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam xử phạt 12 tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm” theo khoản 1 Điều 155 BLHS năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 tại Bản án số 14/2016/HSST. Chấp hành án trở về địa phương vào ngày 14/1/2017.

Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 19 giờ 40 ngày 17/01/2019, trong lúc tuần tra kiểm soát tuyến đường tránh V từ km12 đến km30, tại km 26, tổ công tác của trạm cảnh sát giao thông của Ô-Hòa Nhơn thuộc Công an TP. Đà nẵng kiểm tra xe ô tô khách, BKS 36B-007.11 do tài xế Nguyễn Xuân H điều khiển, phát hiện dưới gầm xe ô tô 01 bao tải và 2 thùng giấy carton có chứa tổng cộng 1.790 bao thuốc lá Jet của hành khách Trương Thị X, không có hóa đơn chứng từ, chứng minh nguồn gốc. Sau đó tổ công tác tiến hành lập biên bản và bàn giao cho cơ quan CSĐT công an huyện Hòa Vang tiếp tục, xác minh làm rõ.

Quá trình điều tra xác định:

Trương Thị X làm nghề buôn bán hàng hóa mua từ N, Đ rồi mang ra bán tại các tỉnh Thừa Thiên Huế và Quảng Trị. Vào ngày 14/1/2019 sau khi giao hàng hóa tại chợ C, thuộc huyện L, tỉnh Quảng trị. X mua gom của các tiểu thương tổng cộng 60 cây thuốc lá Jet hàng nhập lậu với tổng số tiền 6.500.000 đồng để mang vào N, Bình Định bán kiếm lời.

Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 17/1/2019, sau khi mua gom đủ 60 cây thuốc lá, X cho vào bao tải và đóng gói cẩn thận rồi di chuyển đến Quốc lộ 1A, đoạn thuộc địa phận huyện Đ, tỉnh Thừa Thiên Huế để đón xe khách mang vào N, Bình Định. Tại đây, X gặp hai người phụ nữ quen biết từ trước tên A và T, mỗi người cũng mang theo 1 thùng Carton đóng gói sẵn chứa thuốc lá Jet nhập lậu. Sau đó A và T nhờ mang 2 thùng carton này vào N, Bình Định thì được X đồng ý, khi nào tới N sẽ liên lạc để A và T gọi người ra nhận hàng. Vì trước đây có quen biết và đã từng nhờ A, T mua gom thuốc lá Jet rồi vận chuyển vào N giúp nên X biết rõ 2 thùng carton trên là thuốc lá lậu nhưng không biết số lượng cụ thể bao nhiêu.

Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, X đón được xe ô tô khách, biển kiểm soát 36B-007.11 của công ty TNHH Tđi từ Bắc vào Nam do Nguyễn Xuân H làm tài xế và quản lý xe. Sau đó anh H hỏi mang theo hàng gì thì X trả lời “bánh đa” rồi thỏa thuận tiền cước đi vào N với số tiền 400.000 đồng, anh H đưa hành lý vào hầm xe ô tô, X lên xe để đi còn A và T ở lại địa phận huyện Đ, Thừa Thiên Huế, khi di chuyển đến địa phận huyện V thì bị cơ quan chức năng phát hiện, lập biên bản.

Tang vật tạm giữ: 1.790 bao thuốc lá Jet.

Tại Bản án HSST số 35/2019/HSST ngày 8/7/2019 Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, Tp. Đà Nẵng đã quyết định:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS;

Xử phạt: Trương Thị X 21 tháng tù về tội "Vận chuyển hàng cấm". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 18/7/2019, bị cáo Trương Thị X có đơn kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt.

Ti phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo đảm bảo đúng chủ thể, trong thời hạn luật định nên hợp lệ. Về kháng cáo của bị cáo: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm Bị cáo Trương Thị X thừa nhận Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, Tp. Đà Nẵng đã xét xử bị cáo về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự là đúng, chỉ đề nghị HĐXX xem xét nội dung kháng cáo giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Trương Thị X đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Vào lúc 19 giờ 40 phút ngày 17/1/2019 trong lúc tuần tra kiểm soát tuyến đường tránh Vtừ km1 đến km30, tại km26, tổ công tác của trạm cảnh sát giao thông Cửa Ô-Hòa Nhơn thuộc CA TP ĐN kiểm tra xe ô tô khách biển kiểm soát 36B-007.11 do tài xế Nguyễn Xuân H điều khiển, phát hiện, lập biên bản sự việc dưới gầm xe ô tô 01 bao tải và 2 thùng giấy carton có chứa tổng tộng 1.790 bao thuốc lá Jet của hành khách Trương thị X, không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc. Bị cáo X khai nhận sau khi mua gom đủ 60 cây thuốc lá, X cho vào bao tải và đóng gói cẩn thận rồi di chuyển đến Quốc lộ 1A, đoạn thuộc địa phận huyện Đ, tỉnh Thừa Thiên Huế để đón xe khách mang vào N, Bình Định. Tại đây, X gặp hai người phụ nữ quen biết từ trước tên A và T, mỗi người cũng mang theo 1 thùng Carton đóng gói sẵn chứa thuốc lá Jet nhập lậu. Sau đó A và T nhờ mang 2 thùng carton này vào N, Bình Định thì được X đồng ý, khi nào tới N sẽ liên lạc để A và T gọi người ra nhận hàng. Vì trước đây có quen biết và đã từng nhờ A, T mua gom thuốc lá Jet rồi vận chuyển vào nguyên đơn giúp nên X biết rõ 2 thùng carton trên là thuốc lá lậu nhưng không biết số lượng cụ thể bao nhiêu, khi di chuyển đến địa phận huyện V thì bị cơ quan chức năng phát hiện, lập biên bản. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy bản án sơ thẩm số 35/2019/HSST ngày 8/7/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Trương Thị X về tội "Vận chuyển hàng cấm" theo điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo không kháng cáo về tội danh, không kháng cáo kêu oan.

[2] Xét nội dung kháng cáo của bị cáo, HĐXX thấy rằng: Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hoá mà Nhà nước cấm lưu thông gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và hậu quả của vụ án, đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng và đã có xem xét đến nhân thân của bị cáo; xử phạt bị cáo mức án 21 tháng tù là phù hợp, không nặng. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa hôm nay không có tình tiết giảm nhẹ mới nào nên HĐXX không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm a Khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Thị X, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, BLHS;

Xử phạt: Trương Thị X 21 tháng tù về tội "vận chuyển hàng cấm". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

2. Về án phí: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Trương Thị X phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


90
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 156/2019/HS-PT ngày 26/09/2019 về tội vận chuyển hàng cấm

Số hiệu:156/2019/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đà Nẵng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 26/09/2019
Là nguồn của án lệ
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về