Bản án 156/2019/HNGĐ-ST ngày 19/11/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 156/2019/HNGĐ-ST NGÀY 19/11/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 19 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 516/2019/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2019 về tranh chấp “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 24/10/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 85/2019/QĐST-HNGĐ ngày 08/11/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Đỗ Thị Tường V

Địa chỉ: 71/6 Phan Đình Gi, phường Phương S, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Bà V vắng mặt.

Bị đ ơn: Ông Mai Xuân Th

Địa chỉ: Thôn Thái Th, xã Vĩnh Th, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Ông Th vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Nguyên đơn bà Đỗ Thị Tường V trình bày: Bà và ông Mai Xuân Th tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thái, thành phố Nha Trang và đã được cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 04/9/2012.

Sau khi kết hôn, thời gian đầu, bà và ông Th chung sống hòa hợp, hạnh phúc. Tuy nhiên, khoảng thời gian gần đây thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tình cảm vợ chồng không còn và bắt đầu sống ly thân từ hơn một năm nay. Đến nay, bà V nhận thấy không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân với ông Th được nữa yêu cầu Tòa giải quyết cho bà được ly hôn ông Th.

Về con chung: Bà V và ông Th có 02 con chung là Mai Hoàng Minh Kh, sinh ngày 07/01/2013 và Mai Thiên K, sinh ngày 19/02/2018. Ly hôn, bà V yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Kh và cháu K, không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn – ông Mai Văn Th đã được Tòa án tiến hành các thủ tục tống đạt trực tiếp Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập đến Tòa để lấy lời khai, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ án, nhưng ông Th không đến Tòa làm việc theo giấy triệu tập nên Tòa án không lấy được lời khai của ông Th, không hòa giải được vụ án và tại phiên tòa ông Th cũng vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 53, 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Đỗ Thị Tường V được ly hôn với ông Mai Xuân Th; giao 02 con chung Mai Hoàng Minh Kh, sinh ngày 07/01/2013 và Mai Thiên K, sinh ngày 19/02/2018 cho bà V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Th tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con do bà V không yêu cầu. Tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Bà Đỗ Thị Tường V có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Mai Xuân Th đã được Tòa án tiến hành thủ tục tống đạt trực tiếp các Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà V, ông Th.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị Tường V và ông Mai Xuân Th tự nguyện đăng ký kết hôn, đã được Ủy ban nhân xã Vĩnh Thái, thành phố Nha Trang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 66/2012 ngày 04/9/2012, đây là hôn nhân hợp pháp.

Bà V cho rằng, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, thời gian gần đây giữa bà V và ông Th xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tình cảm vợ chồng không còn và đã sống ly thân. Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Th đến Tòa để làm việc nhưng ông Th không chấp hành và vắng mặt tại phiên tòa, cho thấy ông Th đã không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân giữa ông và bà V. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở để xác định, tình trạng hôn nhân giữa bà V và ông Th đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của bà V là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận để bà V được ly hôn ông Th.

[3]. Về con chung: Bà Đỗ Thị Tường V và ông Mai Xuân Th có 02 con chung là Mai Hoàng Minh Kh, sinh ngày 07/01/2013 và Mai Thiên K, sinh ngày 19/02/2018. Bà V có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung và không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con. Vì không lấy được lời khai của ông Th cũng như các con chung còn quá nhỏ (cháu Kim chưa đủ 36 tháng tuổi) cần sự quan tâm, chăm sóc của mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử giao 02 con chung Mai Hoàng Minh Kh, sinh ngày 07/01/2013 và Mai Thiên K, sinh ngày 19/02/2018 cho bà V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Th tạm thời không cấp dưỡng nuôi con do bà V không yêu cầu.

[4]. Tài sản chung và nợ chung: Bà Đỗ Thị Tường V xác định vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[5]. Về án phí: Bà Đỗ Thị Tường V phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, 147, 228, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 57, các Điều 58, 59, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn;

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị Tường V được ly hôn ông Mai Xuân Th.

2. Về con chung: Giao 02 con chung Mai Hoàng Minh Kh, sinh ngày 07/01/2013 và Mai Thiên K, sinh ngày 19/02/2018 cho bà Đỗ Thị Tường V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông Mai Xuân Th tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con do bà V không yêu cầu.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Bà Đỗ Thị Tường V phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0015152 ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang, bà V đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bà Đỗ Thị Tường V và ông Mai Xuân Th vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.


5
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 156/2019/HNGĐ-ST ngày 19/11/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:156/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Nha Trang - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:19/11/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về