Bản án 155/2019/HSST ngày 09/10/2019 về tội cưỡng đoạt tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - TP. HÀ NỘI

BẢN ÁN 155/2019/HSST NGÀY 09/10/2019 VỀ TỘI CƯỠNG ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 09 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, T phố Hà Nội, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 162/2019/HSST ngày 19/09/2019 đối với:

Trịnh Đức T, sinh năm 2000; HKTT: xã P, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh; Chỗ ở: đường K, xã T, huyện T, T phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Sinh viên ngành du lịch; Trình độ văn hóa: 12/12; con ông: Trịnh Đức T; con bà; Trần Thị C; tiền án,tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/06/2019 đến ngày 06/07/2019 hủy bỏ tạm giữ - Có mặt

Bị hại: Anh Nguyễn Quang D, sinh năm: 1999; HKTT: thôn Q, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương– Vắng mặt có lý do

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 01/2018, Trịnh Đức T tạo lập tài khoản facebook mang tên "Trần Mỹ Huyền", tên đăng nhập tài khoản là: 0328208906, mật khẩu đăng nhập T đang sử dụng là: 0904332498. T lập facebook này với mục đích là để bán hàng online. Để thu hút người theo dõi facebook cá nhân phục vụ cho việc bán hàng online nên T đã chọn hình ảnh đại diện trang facebook cá nhân của mình là ảnh 01 cô gái xinh đẹp T copy được trên mạng xã hội. Đến khoảng tháng 04/2019, T tiếp tục tạo lập 01 tài khoản Twiter lấy tên sử dụng là "huyentitania", tên đăng nhập tài khoản là: 0328208906, mật khẩu đăng nhập là: 0904332498 để tham gia mạng xã hội, xem video, đọc báo… T tiếp tục lấy hình ảnh của cô gái mà T đã dùng làm ảnh đại diện trên facebook làm ảnh đại diện của tài khoản Twiter này.

Ngày 27/06/2019, anh Nguyễn Quang D (sinh năm: 1999; HKTT: xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương) sử dụng tài khoản Twiter của mình có tên là "Dương" thì thấy ảnh đại diện của tài khoản Twiter "huyentitania" của T có hình ảnh đại diện là 01 cô gái xinh đẹp nên đã nhắn tin làm quen. Do trên trang Twiter của T có mục giới thiệu bản thân là "gửi ảnh từ mặt đến chân" nên T đã yêu cầu anh D gửi ảnh theo yêu cầu của T với nội dung trên thì T sẽ đồng ý nói chuyện. Sau đó, anh D đã gửi 01 hình ảnh khỏa thân tự chụp của mình cho T nên T đã đồng ý kết bạn. Do mạng xã hội Twiter không hiển thị được bạn bè của anh D nên T yêu cầu anh D kết bạn facebook với T, mục đích là tăng lượt người theo dõi trang facebook "Trần Mỹ Huyền" để việc kinh doanh buôn bán online thuận tiện. T gửi trực tiếp đường link facebook.com/huyen.mon.7927 cho anh D và yêu cầu anh D kết bạn với facebook "Trần Mỹ Huyền". Sau đó, anh D dùng tài khoản facebook của mình có tên là "Quang Dương" gửi lời kết bạn đến tài khoản facebook "Trần Mỹ Huyền" và được T đồng ý kết bạn. Ngay sau khi kết bạn với anh D, T nảy sinh ý định sẽ dùng ảnh khỏa thân của chính anh D mà anh đã gửi cho T qua mạng xã hội Twiter để đe dọa nhằm chiếm đoạt tài sản (tiền) của anh D. T nhận thấy bạn bè trên facebook của anh D rất nhiều nên T dùng thủ đoạn đe dọa nếu anh D không đưa tiền cho T thì T sẽ chia sẻ ảnh khỏa thân của anh D cho bạn bè của anh D thông qua facebook. T trực tiếp nhắn tin trên facebook cho 1,2 bạn bè của anh D (nhưng chưa chia sẻ hình ảnh gì) rồi chụp ảnh nội dung tin nhắn ở màn hình điện thoại gửi cho anh D để đe dọa, uy hiếp tinh thần đối với anh D buộc anh D vì lo sợ bị phát tán ảnh khỏa thân của mình trên mạng internet nên miễn cưỡng phải đưa tiền cho T, đồng thời T yêu cầu anh D phải đưa cho T số tiền 3.000.000 đồng và phải giao tiền vào ngày 28/06/2019 nếu để đến ngày 29/06/2019 thì anh D phải đưa cho T 5.000.000 đồng. T yêu cầu anh D phải chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng Agribank 1500205586460 mang tên chị Nguyễn Minh H (sinh năm: 1999; HKTT: phường L, quận H, Hà Nội). Nhưng sau đó, T yêu cầu anh D phải giao tiền cho T vào khoảng 16 giờ ngày 28/06/2019 tại khu vực trước cổng tòa nhà chung cư E, đường N, xã T, huyện T, Hà Nội, T thỏa thuận với anh D sau khi nhận được tiền thì T sẽ xóa ảnh khỏa thân của anh D. Do lo sợ bị phát tán ảnh khỏa thân của mình nên khoảng 16h30 phút ngày 28/06/2019, anh D đã đi đến khu vực trước cổng tòa chung cư E, đường N, xã T, huyện T, Hà Nội để gặp T. Khi hai người gặp nhau anh D đã đưa cho T số tiền 3.000.000 đồng, khi T vừa nhận số tiền của anh D trên thì bị Tổ công tác Đội điều tra hình sự - Công an huyện Thanh Trì phối hợp với Phòng PA05 – Công an T phố Hà Nội đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát phát hiện D và T có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra phát hiện T vừa dùng thủ đoạn để chiếm đoạt của anh D 3.000.000 đồng nên Tổ công tác đã yêu cầu anh D, T về trụ sở công an để làm việc.

Đối với 01 chiếc điện thoại Xiaomi mi 6x thu giữ của anh Nguyễn Quang D và số tiền 3.000.000 đồng thu giữ của Trịnh Đức T quá trình điều tra xác định đây là những tài sản của anh Nguyễn Quang D nên ngày 16/07/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Thanh Trì đã trả lại cho anh D số tài sản này, anh D đã nhận lại tài sản và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với T.

Tại bản cáo trạng số 161/CT-VKS ngày 18/09/2019, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố Trịnh Đức T về tội "Cưỡng đoạt tài sản" theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo thừa nhận hành vi cưỡng đoạt tài sản của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Lời nói sau cùng bị cáo rất hối hận với hành vi trộm cắp của mình tỏ ra ăn năn hối cải và T khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình; đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ và khoan hồng cho bị cáo để bị cáo có cơ hội tiếp tục học tập, sửa chữa làm người có ích cho gia định và cho xã hội.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa đã xem xét toàn diện các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thông qua việc xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa đã luận tội và kết luận: Hồi 17giờ ngày 28/06/2019, tại khu vực trước Cổng tòa nhà chung cư E ở đường N, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội, bị cáo đã dùng thủ đoạn đe dọa uy hiếp tinh thần anh Nguyễn Quang D nhằm chiếm đoạt số tiền là 3.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo là có đủ dấu hiệu cấu T tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trịnh Đức T như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 170;

điểm h, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 15 tháng đến 21. tháng tù nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách từ 30 đến 42 tháng tù; giao bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý giáo dục.Vật chứng: Chiếc điện thoại Sam sung J7 Pro là tài sản của bị cáo dùng vào việc phạm tộicho tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Công an huyện Thanh trì, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền. Đến thời điểm mở phiên tòa không có người tham gia tố tụng nào có ý kiến và khiếu nại. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ quy định của pháp luật xét xử vụ án và nhận định hành vi phạm tội của bị cáo như sau

[1] Do không có tiền chi tiêu cá nhân mà bị cáo đã dùng thủ đoạn vào trang Twiter của anh D đề nghị "gửi ảnh khỏa thân từ mặt đến chân" cho bị cáo rồi bị cáo dùng hình ảnh này đe dọa, uy hiếp tinh thần anh D làm anh D sợ bị tung ảnh khỏa thân của mình trên mạng internet và đã phải đưa cho bị cáo 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng chẵn). Hành vi của bị cáo là có đủ dấu hiệu cấu T tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Khi xem xét đến lượng hình, Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi người phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của vụ án, thấy

[2]: Tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người còn trẻ nhưng không chịu tu dưỡng bản thân để trở T người có ích cho gia đình và cho xã hội mà đi vào con đường phạm tội. Trong khi bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi cưỡng đoạt tài sản của người khác là bất hợp pháp và vi phạm pháp luật nghiêm trọng, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được luật hình sự bảo vệ; gây mất trật tự trị an cho xã hội, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung

[3]. Nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ: Bị cáo bị phạt cảnh cáo khi 16 tuổi, do vậy không coi là tiền sự và có nhân thân xấu. Tuy nhiên, cũng cần xem bị cáo có nhân thân chưa tốt. Sau khi bị bắt tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo có thái độ T khẩn khai nhận hành vi phạm tội, có thái độ ăn năn hối cải; Phạm tội gây thiệt hại không lớn và được thu hồi trả cho người bị hại ngay; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51Bộ luật hình sự.

Xét bị cáo thành khẩn, lượng tiền chiếm đoạt không lớn và được thu hồi trả cho người bị hại ngay; bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, không phải chịu tình tiết tăng nặng nào, có nơi cư trú rõ ràng,hiện bị cáo đang theo học tại trường Đại học Đại Nam. Việc cho bị cáo cải tạo tại địa phương và tạo điều kiện cho bị cáo tiếp tục theo học để trở thành người có ích cho gia đình và cho xã hội là thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, không gây ảnh hưởng xấu tới cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Do vậy, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo

[4]. Vật chứng: Chiếc điện thoại Sam sung J7 Pro là tài sản của bị cáo dùng vào việc phạm tội cho tịch thu sung công.

Đối với chị Nguyễn Minh H cho T mượn tài khoản ngân hành của mình nhưng chị không biết việc T dùng tài khoản này để thực hiện hành vi cưỡng đoạt tài sản nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Thanh Trì không xử lý.

[6]Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm

[7]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

Vì các căn cứ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 170; Điều 65; điểm h,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Đức T phạm tội "Cưỡng đoạt tài sản"

Xử phạt: Trịnh Đức T 15 (mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; giao bị cáo cho UBND xã P, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách,trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”

Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2Điều 136, Điều 331, Điều 332, Điều 333 và Điều 336 Bộ luật tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án

Vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước Sam sung J7 Pro. Vật chứng hiện ở Cơ quan thi hành án dân sự huyện Thanh Trì theo biên bản bàn giao ngày 23/09//2019.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm, Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả xét xử.


72
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 155/2019/HSST ngày 09/10/2019 về tội cưỡng đoạt tài sản

Số hiệu:155/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thanh Trì - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:09/10/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về