Bản án 154/2017/HSST ngày 26/09/2017 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 154/2017/HSST NGÀY 26/09/2017 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 26 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 121/2017/HSST ngày 07 tháng 9 năm 2017 đối với bị cáo:

Đặng Thị Thu T, sinh năm: 1980; đăng ký thường trú: Số 77/49 phố T, phường L, quận N, Hải Phòng; nơi ở: số 3/128 phố C, phường G, quận N, Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; con ông Đặng Thế D (đã chết); con bà Nguyễn Thị H,  sinh năm 1961; gia đình có 02 chị em, T là con thứ nhất; có chồng là Nguyễn Đức T (đã chết); có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Có 03 tiền án và một tiền sự đã được xóa án tích; bị bắt tạm giữ ngày 06/6/2017; tạm giam ngày 08/6/2017; có mặt tại phiên tòa.

NHẬN THẤY

Bị cáo Đặng Thị Thu T bị Viện Kiểm sát nhân dân Quận Lê Chân truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Hồi 11 giờ ngày 05/6/2017, Tổ công tác thuộc đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Lê Chân phát hiện và bắt giữ Đặng Thị Thu T có biểu hiện mua bán trái phép chất ma túy tại khu vực trước cửa nhà số 8 đường Hồ Sen, quận Lê Chân, Hải Phòng. Tiến hành kiểm tra, Công an đã thu giữ trong túi sách màu nâu của T đang đeo 01 vỏ bao thuốc là Thăng Long có 30 gói giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng, 01 túi nilon có 10 gói giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng nghi hê-rô-in. Ngoài ra, còn thu giữ của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA đã  qua sử  dụng, 01 xe mô  tô  biển  kiểm  soát 16K5-0259  và  số  tiền2.020.000 đồng. Sau đó, Tổ công tác đã đưa T cùng tang vật về trụ sở để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

 Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đặng Thị Thu T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân không thu giữ được các đồ vật, tài liệu liên quan đến hành vi phạm tội của T.

Bản Kết luận giám định số 750/PC54(MT) ngày 08/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận:

- Chất bột màu trắng chứa trong 30 gói giấy thu giữ của Đặng Thị Thu T tại vỏ bao thuốc lá Thăng Long có trọng lượng Heroine trong 0,5947 gam chất bột là0,3889 gam.

- Chất bột màu trắng chứa trong 10 gói giấy thu của Đặng Thị Thu T tại túi nilon có trọng lượng Heroine trong 0,1502 gam chất bột là 0,0969 gam

Tại cơ quan điều tra, Đặng Thị Thu T khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 05/6/2017, T nhận được điện thoại của T1 (là bạn quen biết ngoài xã hội) hỏi mua 10 gói hê rô in với giá 500.000 đồng và hẹn gặp nhau tại đầu đường Hồ Sen, quận Lê Chân, Hải Phòng để giao nhận tiền. T nhận lời và điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 16K5-0259 đến khu vực cuối ngõ 240 Tô Hiệu, quận Lê Chân, Hải Phòng mua của đối tượng có tên là T2 02 gói hê-rô-in với giá 600.000 đồng. Sau khi mua ma túy xong, T về khu vực bệnh viện Hồ Sen dùng kéo và giấy chia nhỏ số ma túy vừa mua được thành 40 gói nhỏ, T cho 30 gói vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long với mục đích bán cho những người nghiện nếu họ có nhu cầu mua, còn lại 10 gói cho vào túi nilon để bán cho T1. Khi T đi đến điểm hẹn với T1 để bán ma túy thì bị Công an kiểm tra bắt giữ cùng vật chứng tại khu vực trước cửa nhà số 8 Hồ Sen, quận Lê Chân, Hải Phòng. T đã mua ma túy của vợ chồng T2 từ tháng 4/2017 với mục đích sử dụng cho bản thân, việc mua ma túy trên chỉ có T với vợ chồng T2 không có người chứng kiến và giao dịch bằng miệng. Đây là lần đầu tiên T bán ma túy và bị bắt quả tang

Quá trình xác minh và cho nhận dạng, Đặng Thị Thu T đã xác nhận Nguyễn Công H, sinh năm: 1957 và Nguyễn Thị Minh P, sinh năm: 1961 cả hai có cùng chỗ ở: số 21/153 phố H, phường A, quận L, Hải Phòng là người đã bán ma túy cho T. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận L đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của vợ chồng H thu giữ 01 cân tiểu ly và 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng theo Kết luận giám định số 987 ngày 28/8/2017 của Phòng kỹ thuật Công an thành phố Hải Phòng có trọng lượng 1,4867 gam là chất Magnesium Sulfate, không tìm thấy chất ma túy.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Công H và Nguyễn Thị Minh P không thừa nhận quen biết T, không bán ma túy cho T, còn chiếc cân điện tử là do H nhặt được.

Tại bản cáo trạng số 147/CT-VKS ngày 06/9/2017, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân truy tố bị cáo Đặng Thị Thu T về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Hải Phòng thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như cáo trạng. Sau khi đánh giá phân tích tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị:

- Về hình phạt: Áp dụng  khoản 1, khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS; xử phạt bị cáo Đặng Thị Thu T mức án từ 42 đến 48 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Phạt bổ sung đối với bị cáo số tiền 5.000.000đ.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy thu giữ của bị cáo T sau khi lấy mẫu gửi giám định còn lại đã được niêm phong trong 01 phong bì ; tịch thu tiêu hủy 01 kéo ( không còn giá trị sử dụng) ; tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động (Bị cáo dùng vào việc phạm tội); trả lại bị cáo số tiền 2.020.000 đồng, nhưng cần tạm giữ lại để đảm bảo thi hành khoản tiền án phí đối với bị cáo.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 16K5-0259, quá trình xác minh xác định chủ sở hữu hợp pháp là Đặng Thị Thu T3 -sinh năm: 1984; Trú quán: 77/49 phố T, phường L, quận N, Hải Phòng. T3 cho Trang mượn xe làm phương tiện đi lại và không biết T sử dụng vào việc mua bán ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho T3.

Đối với đối tượng Nguyễn Công H và Nguyễn Thị Minh P: H và P khai không quen biết, không bán ma túy cho T. Tiến hành đối chất, H, P và T vẫn giữ nguyên lời khai. Ngoài lời khai của Đặng Thị Thu T không còn tài liệu nào khác nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với nam giới tên T1 là người hỏi mua ma túy của T, do T không biết căn cước, lai lịch của các đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân không có cơ sở để xử lý.

Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Thị Thu T  khai nhận đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy để kiếm lời như nội dung cáo trạng đã nêu.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

XÉT THẤY

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang được lập vào hồi 11h35’’ ngày 05/6/2017 tại trụ sở Công an Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ và tang vật của vụ án  đã  thu giữ; phù  hợp  với  Bản kết luận giám định số 750/PC54(MT) ngày 08/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng thể hiện:

Đặng Thị Thu T đã có hành vi cất giữ 0,4858 g Heroin để bán trái phép kiếm lời bị phát hiện bắt quả tang hồi 11giờ 00 phút ngày 05/6/2017 tại khu vực trước cửa nhà số 8 Hồ Sen, quận Lê Chân, Hải Phòng. Như vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Đặng Thị Thu T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý", vi phạm khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý chất gây nghiện và là nguyên nhân gây lên các tệ nạn xã hội, các bệnh dịch nguy hiểm cho con người, bị xã hội lên án. Nhân thân bị cáo có 03 tiền án:

Án số 387 ngày 30/10/1995, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử 18 tháng tù  về tội Cướp  tài sản (thời hạn tính phạt tù từ  ngày bị bắt tạm  giam 02/10/1995, bị cáo phạm tội khi đó mới 14 tuổi, 8 tháng 02 ngày nên người đỡ đầu là Đặng Văn Dũng phải chịu án phí hình sự sơ thẩm);

Án số 409 ngày 25/11/1996, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử 18 tháng tù  về tội Cướp  tài sản (thời hạn tính phạt tù từ  ngày bị bắt tạm  giam 02/10/1995, bị cáo phạm tội khi đó dưới 16 tuổi nên người đỡ đầu là Nguyễn Thị H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm);

Án số 10 ngày 20/01/2005, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền xử phạt 42 tháng tù về tội Cướp tài sản (thời hạn tính phạt tù từ ngày bị bắt tạm giữ 12/8/2004, thi hành xong án phí ngày 25/7/2006). Tháng 3/2016 có hành vi trộm cắp bị Công an phường Máy Tơ- Quận Ngô Quyền- Hải Phòng xử lý hành chính.

Cả 03 tiền án và 01 tiền sự của bị cáo đều đã được xóa nhưng thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, ý thức chấp hành pháp luật kém, nên cần xử bị cáo một mức án nghiêm khắc để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Song cũng xét tại giai đoạn điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, để giảm nhẹ cho bị cáo một phần khi quyết định hình phạt.

Do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không nghề nghiệp và thu nhập nên Hội đồng xét xử không phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Đối với đối tượng Nguyễn Công H và Nguyễn Thị Minh P: H và P khai không quen biết, không bán ma túy cho T. Tiến hành đối chất, H, P và T  vẫn giữ nguyên lời khai. Ngoài lời khai của Đặng Thị Thu T không còn tài liệu nào khác nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ sẽ xử lý sau. Hội đồng xét xử không xét.

Đối với nam giới tên T1 là người hỏi mua ma túy của T, do T không biết căn cước, lai lịch của các đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân không có cơ sở để xử lý. Hội đồng xét xử không xét.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 phong bì niêm phong đựng số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu gửi giám định và 01 kéo  xét đây là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng, nên cần áp dụng Điều 41 Bộ luật Hình sự và Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự để tịch thu tiêu huỷ.

Đối với  điện thoại di động đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo, xét  đây là công cụ, phương tiện  bị cáo dùng vào việc phạm tội  nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với số tiền 2.020.000đ, xét đây là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên không có cơ sơ để tịch thu, nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành khoản tiền án phí đối với bị cáo.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 16K5-0259, quá trình xác minh xác định chủ sở hữu hợp pháp là Đặng Thị Thu T3 - sinh năm: 1984; Trú quán: 77/49 phố T, phường L, quận N, Hải Phòng. T3 cho T mượn xe làm phương tiện đi lại và không biết T sử dụng vào việc mua bán ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho T3.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Đặng Thị Thu T  phạm tội " Mua bán trái phép chất ma tuý".

- Áp dụng: khoản 1  Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Đặng Thị Thu T 42 ( Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 06 tháng 6 năm 2017.

- Áp dụng: điểm a,c khoản 1, khoản 2 Điều 41 Bộ luật Hình sự; điểm a,b,đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu gửi giám định ; 01 kéo.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo.

Tạm giữ số tiền 2.020.000đ ( Hai triệu không trăm hai mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo để đảm bảo thi hành khoản tiền án phí đối với bị cáo.

Theo đúng biên bản giao, nhận tài sản vật chứng ngày 11/9/2017 và Biên lai thu tiền số 0004039 ngày 11/9/2017) giữa Công an quận Lê Chân và Chi cục Thi hành án dân sự Quận Lê Chân

- Áp dụng: Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sựNghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016:

Bị cáo Đặng Thị Thu T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


45
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 154/2017/HSST ngày 26/09/2017 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:154/2017/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Lê Chân - Hải Phòng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 26/09/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về