Bản án 152/2020/HNGĐ-ST ngày 15/07/2020 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 152/2020/HNGĐ-ST NGÀY 15/07/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 15 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 331/2020/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2020 về việc :Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 8 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 78/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Ngô Văn T, sinh năm 1976.

2. Bị đơn: Chị Huỳnh Thị K, sinh năm 1977 Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. (Anh T có mặt, chị K vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ly hôn ngày 28 tháng 4 năm 2020 và những lời khai tiếp theo cũng như tại phiên tòa, anh Ngô Văn T trình bày: Anh và chị K có tìm hiểu nhau thời gian 02 năm, sau đó chung sống với nhau vào năm 1998 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến tháng 7 năm 2019 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do cuộc sống không phù hợp, thường xuyên cải vã nhau nên anh và chị K ly thân nhau từ tháng 03 năm 2020 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh xin ly hôn với chị Huỳnh Thị K.

 Về con chung: Anh và chị K chung sống sinh được 02 người con tên Ngô Thị Cẩm T sinh ngày 16 tháng 8 năm 2001 và Ngô Thị Huỳnh P sinh ngày 03 tháng 12 năm 2014, khi ly hôn anh đồng ý để cho chị K tục nuôi con tên Ngô Thị Huỳnh P, anh không cấp dưỡng, đối với Ngô Thị Cẩm T đã trưởng thành, không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Không có Về nợ chung: Không có.

Đối với chị Huỳnh Thị K từ khi Tòa án thụ lý vụ án và tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định, như chị K vẫn vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Anh Ngô Văn T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với chị Huỳnh Thị K, chị K có địa chỉ thường trú tại; Ấp H, xã L, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An được Công an xã L xác nhận và có mặt tại địa phương nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Ngô Văn T và chị Huỳnh Thị K có tìm hiểu nhau thời gian 02 năm, sau đó chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đức Hòa, nên hôn nhân giữa anh T và chị K là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3]. Trong quá trình chung sống, anh T cho rằng do cuộc sống không phù hợp, thường xuyên cải vã nhau, nên anh và chị K đã ly thân từ tháng 03 năm 2020 cho đến nay. Mâu thuẫn giữa anh T và chị K cũng không được gia đình hai bên và chính quyền địa phương giải quyết. Đối với chị Huỳnh Thị K, từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến nay chị K không đến Tòa án cũng như gửi văn bản phản hồi ý kiến về việc xin ly hôn của anh T, chị K cũng không đưa ra được hướng đoàn tụ với anh T. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng đời sống chung vợ chồng của anh T và chị K không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, xét yêu cầu ly hôn của anh T đối với chị K là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4]. Về con chung: Anh T và chị K chung sống sinh được 02 người con tên Ngô Thị Cẩm T sinh ngày 16 tháng 8 năm 2001 và Ngô Thị Huỳnh P sinh ngày 03 tháng 12 năm 2014.

Tại phiên tòa hôm nay anh T đồng ý giao con chung tên Ngô Thị Huỳnh P cho chị K tiếp tục nuôi dưỡng, đối với chị K vắng mặt và cũng không có văn bản phản hồi ý kiến về việc nuôi con. Do đó Hội đồng xét xử thấy rằng từ khi anh T và chị K ly thân với nhau chị K trực tiếp nuôi con, để đảm bảo sự phát triển bình thường của con, nên cần tiếp tục giao con cho chị K tiếp tục nuôi là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Đối với Ngô Thị Cẩm T sinh ngày 16 tháng 8 năm 2001 đã trưởng thành, nên không xem xét.

Tại phiên tòa hôm nay chị K vắng mặt, cũng không có văn bản nào yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về tài sản chung: Anh T khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về nợ chung: Anh T khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

 [7]. Về án phí: Anh T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự:

Căn cứ vào các Điều 9 và Điều 56 Điều 81 Điều 82 Điều 83 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Văn T đối với chị Huỳnh Thị K về việc “Ly hôn”.

Anh Ngô Văn T được ly hôn với chị Huỳnh Thị K.

2. Về con chung: Chị K được tiếp tục nuôi con chung tên Ngô Thị Huỳnh P sinh ngày 03 tháng 12 năm 2014,(chị K đang nuôi) đối với Ngô Thị Cẩm T đã trưởng thành, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị K không yêu cầu.

Bên không nuôi con được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Khi cần thiết các bên có thể thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Anh Ngô Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0005082 ngày 28/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa sang án phí để thi hành. Như vậy anh T không phải nộp tiếp.

Án xử sơ thẩm và tuyên án công khai, nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.


14
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 152/2020/HNGĐ-ST ngày 15/07/2020 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:152/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:15/07/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về