Bản án 152/2018/HS-ST ngày 30/11/2018 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG TỈNH TUYÊN QUANG

BẢN ÁN 152/2018/HS-ST NGÀY 30/11/2018 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 30 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 142/2018/TLST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2018/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Lê T, sinh ngày 13/4/1990 tại thành phố T; Nơi cư trú: Tổ 33, phường T, thành phố T, Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê H và bà Nguyễn T; có vợ là Anh P và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Ngày 18/11/2016 Công an thành phố Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính (hình thức phạt tiền 750.000đồng) về hành vi dùng tay đấm vào mặt C (đã nộp phạt ngày 16/12/2016);

- Ngày 21/12/2016 Công an thành phố Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính (hình thức phạt tiền 750.000đồng) về hành vi báo thông tin giả đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền (đã nộp phạt ngày 23/12/2016);

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại tổ 33, phường T, thành phố T. Có mặt.

* Bị hại: Anh Nguyễn H, sinh năm 1992. Trú tại: Tổ 25, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

* Người làm chứng:

- Chị Nguyễn K, sinh năm 1994

Địa chỉ: Tổ 25, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

- Bà Phan X, sinh năm 1970

Địa chỉ: Tổ 25, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

- Ông Nguyễn N, sinh năm 1968

Địa chỉ: Tổ 25, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê T có nợ tiền mua bán hàng (bia, nước ngọt) của gia đình Nguyễn H nên H có đến đòi tiền T thì xảy ra mâu thuẫn. Đến tối ngày 12/7/2018, Nguyễn H đã viết và đăng lên trang cá nhân trên mạng xã hội Facebook với nội dung “Tưởng giang hồ đồn sống như nào, hơn 2 triệu tiền hàng mà rẻ rách gần 2 năm định ăn quỵt thì vl rồi, đẳng cấp thật”. Sau khi đọc được nội dung trên, T nghĩ H nói mình, nên khoảng 01 giờ ngày 13/7/2018 T đến nhà H và lấy 01 con dao kim loại, chuôi gỗ dài 31cm, lưỡi dao bản rộng 05cm ở quán tại tầng 1, Siêu thị L thuộc tổ 25, phường M, thành phố T đến nhà H gọi H ra trước cửa nhà nói chuyện. Trong lúc nói chuyện T và H đã xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau, T nhặt 02 vỏ chai thủy tinh (loại chai coca) ở sân ném trúng vào khuỷu tay bên phải của H, sau đó dùng dao chém 01 nhát vào mặt sau cánh tay phải của H, thấy H bị thương tích T cầm dao bỏ chạy về nhà; còn H được người nhà đưa vào Bệnh viện đa khoa tỉnh Tuyên Quang để điều trị. Hồi 21 giờ ngày 13/7/2018, Lê T đã đến Công an phường T, thành phố T đầu thú.

Tại Bản kết luận pháp y về thương tích số 175/2018/TgT ngày 15/8/2018 của Trung tâm pháp y tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Thương tích của Nguyễn H tại 1/3 giữa mặt sau cánh tay phải có sẹo thẳng, đi từ 1/3 giữa hướng xuống khuỷu, kích thước (07 x 0,6) cm, sẹo màu hồng, mềm, phẳng, bờ mép gọn; cơ chế gây thương tích do vật sắc tác động trực tiếp gây nên. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 8% (tám phần trăm).

Tại bản cáo trạng số 143/CT-VKSTP ngày 12 tháng 11 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Lê T về tội "Cố ý gây thương tích" theo điểm a, khoản 1, Điều 134 Bộ luật hình sự.

Kết thúc phần tranh luận tại phiên toà, đại diện VKSND thành phố Tuyên Quang giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố: Bị cáo Lê T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: Điểm a, khoản 1, Điều 134; điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê T từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng 18 tháng. Hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao bằng kim loại dài 31cm và 01 đoạn gậy rút dài 64,5cm (Tình trạng vật chứng thể hiện tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/11/2018 giữa Cơ quan Công an thành phố Tuyên Quang và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang).

- Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm; Tuyên quyền kháng cáo cho những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lê T không trình bày lời bào chữa và nhất trí với luận tội của đại diện VKSND thành phố Tuyên Quang. Bị cáo tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải và xin lỗi bị hại và gia đình bị hại, bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo tu dưỡng, cải tạo trở thành người công dân tốt.

Bị hại Nguyễn H không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra và truy tố, Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Bị cáo Lê T là người có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức và điều khiển được hành vi của mình nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự để gây thương tích cho anh Nguyễn H là 8%. Tại phiên toà, bị cáo xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo đã tự nguyện và thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng người, đúng tội, không oan. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Lê T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo Lê T đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo cũng đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo.

Xét thấy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng mà có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên và có nơi cư trú ổn định, đủ điều kiện áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối Cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng có khả năng tự cải tạo và không gây nguy hiểm cho xã hội.

Vì vậy, mức hình phạt mà đại diện VKSND thành phố Tuyên Quang đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp cần chấp nhận.

Trong thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Nếu trong thời gian này, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì bị cáo phải chịu hậu quả theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại. Cụ thể: Ngày 07/8/2018 bị cáo bồi thường cho anh Nguyễn H số tiền 3.405.000đồng (gồm: Tiền thuốc và điều trị vết thương); bị cáo cũng đã thanh toán số tiền hàng hóa còn nợ 2.595.000đồng; tổng là 6.000.000đồng. Anh H không có yêu cầu bồi thường về dân sự, vì vậy HĐXX không đặt ra xem xét đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo:

- Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra thu giữ 01 con dao bằng kim loại dài 31cm và 01 đoạn gậy rút dài 64,5cm. Đây là vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

(Tình trạng vật chứng thể hiện tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/11/2018 giữa Cơ quan Công an thành phố Tuyên Quang và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang).

- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào: Điểm a, khoản 1, Điều 134; điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê T phạm tội "Cố ý gây thương tích".

Xử phạt: Bị cáo Lê T 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng. Hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/11/2018).

Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân phường T, thành phố T giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1, điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại dài 31cm và 01 đoạn gậy rút dài 64,5cm.

(Tình trạng vật chứng thể hiện tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/11/2018 giữa Cơ quan Công an thành phố Tuyên Quang và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang).

3. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm;

Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


40
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về