Bản án 15/2020/DS-ST ngày 05/03/2020 về đòi lại tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH

BẢN ÁN 15/2020/DS-ST NGÀY 05/03/2020 VỀ ĐÒI LẠI TÀI SẢN

Ngày 05 tháng 3 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 86/2019/TLST-DS, ngày 05 tháng 8 năm 2019, về việc “Đòi lại tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2020/QĐXX-ST ngày 14 tháng 01 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 154/2020/QĐST-DS, ngày 12 tháng 02 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân P.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Kim B - Chủ tịch Hội đồng quản trị (Có mặt).

Địa chỉ: Thôn K, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn N (Vắng mặt) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Lê Thị L (Vắng mặt) Cùng địa chỉ: Thôn H, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 7 năm 2019, tại bản tự khai ngày 23/8/2019, ngày 11/02/2020 và trong quá trình xét xử, đại diện theo pháp luật của nguyên đơn ông Nguyễn Kim B trình bày:

Theo hợp đồng tín dụng số 515/HĐTD-CN2007, ngày 25/10/2007, ông Nguyễn Văn N và người thừa kế là vợ ông N, bà Lê Thị L đến Quỹ tín dụng nhân dân P vay 15.000.000đ, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất 1,25%/tháng, chuyển sang quá hạn lãi suất 1,875%/tháng, mục đích vay là chăn nuôi sản xuất. Hình thức bảo đảm tiền vay, cho vay có bảo đảm bằng tài sản, tài sản bảo đảm nợ vay gồm, đơn xin xác nhận nhà ở.

Đến nay khoản vay của hợp đồng tín dụng trên đã quá hạn, Quỹ tín dụng nhân dân P đã nhiều lần liên lạc, gửi thông báo trong việc trả nợ quá hạn nhưng ông N, bà L vẫn không chịu trả nợ gốc và lãi theo cam kết.

Nay Quỹ tín dụng nhân dân P yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn N, bà Lê Thị L có trách nhiệm phải trả toàn bộ số tiền còn nợ cho Quỹ tín dụng nhân dân P. Cụ thể, nợ gốc 15.000.000đ, nợ lãi trong hạn từ ngày 25/10/2007 đến ngày 24/10/2008 là 2.281.300đ. Tổng cộng cả gốc và lãi là 17.281.300đ.

Trước đây Quỹ tín dụng nhân dân P có yêu cầu tính lãi suất quá hạn 4.050.000đ, nhưng nay ông xin rút lại yêu cầu này. Ông chỉ yêu cầu ông N, bà L trả nợ gốc và nợ lãi trong hạn, không yêu cầu trả nợ lãi quá hạn.

* Vắng mặt tại phiên tòa hôm nay, nhưng tại bản tự khai ngày 23/8/2019 bị đơn ông Nguyễn Văn N trình bày: Vào ngày 25/10/2007 ông có đến Quỹ tín dụng nhân dân P vay 15.000.000đ tiền gốc, mục đích vay là nuôi trồng thủy sản, thời hạn vay 12 tháng, còn lãi suất lâu quá ông không nhớ. Sau khi vay tiền xong một thời gian thì nhà nước có chính sách xóa nợ cho người dân vì làm ăn thua lỗ, và ông cũng nằm trong diện được xóa nợ. Sau đó một thời gia dài ông không thấy Quỹ tín dụng nhân dân P đến đòi nợ. Nay Quỹ tín dụng nhân dân P yêu cầu ông trả 15.000.000đ và lãi 6.343.800đ thì ông chỉ đồng ý trả nợ gốc, còn lãi ông không đồng ý trả. Ông xin trả dần tiền gốc mỗi tháng 500.000đ cho đến khi hết nợ gốc 15.000.000đ.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng bà L vẫn vắng mặt nên Tòa tiến hành xét xử vắng mặt bà L.

* Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Từ khi thụ lý đơn khởi kiện đến tại phiên tòa Thẩm phán và Hội đồng xét xử, nguyên đơn chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn N và và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị L không chấp hành các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 471, 472, 473, 474, 476, 478 Bộ luật dân sự Năm 2005. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Theo Hợp đồng tín dụng số 515/HĐTD-CN2007, ngày 25/10/2007 thời hạn vay là 12 tháng là ngày 24/10/2008; Từ đó đến nay Qũy tín dụng không cung cấp chứng cứ đòi nợ liên tục, phía bị đơn cũng không có chứng cứ xác nhận lại khoản nợ trên. Từ năm 2008 đến năm 2019 Qũy tín dụng mới khởi kiện tại Tòa nên thời hiệu khởi kiện về vay tài sản đã hết thời hiệu theo qui định tại Điều 184 BLTTDS năm 2015 nên Tòa chấp nhận Qũy tín dụng khởi kiện về việc đòi lại tài sản là tiền gốc ông N, bà L vay 15.000.000 đồng và lãi trong hạn là có căn cứ theo qui định tại Điều 23 Nghị quyết 03/2012 ngày 03 tháng 12 năm 2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, cho nên Tòa xác định quan hệ tranh chấp đòi lại tài sản là có căn cứ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo qui định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án này có bị đơn là ông Nguyễn Văn N, cư trú tại thôn H, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; vì vậy, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định theo qui định tại điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Nguyễn Văn N và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị L đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng từ chối đến Tòa nên, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông N, bà L theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân P yêu cầu ông Nguyễn Văn N trả nợ vay gồm 15.000.000đ tiền gốc và 2.281.300đ tiền lãi. Hội đồng xét xử thấy rằng, vào ngày 25/10/2007 giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn N, bà Lê Thị L và Quỹ tín dụng nhân dân P có thỏa thuận xác lập hợp đồng vay tiền là hợp đồng tín dụng số 515/HĐTD-CN2007, số tiền vay là 15.000.000đ, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất 1,25%/tháng, chuyển sang quá hạn lãi suất 1,875%/tháng. Từ khi vay đến nay ông N không có trả nợ gốc và nợ lãi cho Quỹ tín dụng nhân dân P theo cam kết.

Xét yêu cầu của ông N chỉ chấp nhận trả nợ gốc, không trả nợ lãi và xin trả dần nợ gốc mỗi tháng 500.000đ cho đến khi hết số nợ gốc là 15.000.000đ. Hội đồng xét xử thấy rằng, yêu cầu của ông N không được đại diện theo pháp luật của nguyên đơn đồng ý và không phù hợp với qui định pháp luật; Mặt khác, ông N yêu cầu xin trả dần nợ gốc mỗi tháng 500.000đ cho đến khi hết nợ gốc, nhưng tại phiên tòa hôm nay ông N cố tình vắng mặt, chứng tỏ ông N không có thiện chí trả nợ. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của ông N.

Mặc dù ông N là người đứng tên vay tiền, nhưng mục đích sử dụng tiền vay của ông N là về để đầu tư chăn nuôi nhằm phát triển kinh tế gia đình, do đó theo qui định tại Điều 27 và 37 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, thì số nợ này là nợ chung của vợ chồng ông N, bà L. Trong quá trình giải quyết vụ án thì đại diện theo pháp luật của nguyên đơn yêu cầu ông N phải trả nợ gốc 15.000.000đ, nợ lãi trong hạn 2.287.800đ, nợ lãi quá hạn 4.050.000đ. Nhưng tại phiên tòa hôm nay đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin rút lại một phần yêu cầu là chỉ yêu cầu ông N, bà L trả nợ gốc 15.000.000đ và nợ lãi trong hạn 2.281.300đ. Đây là sự tự nguyện của nguyên đơn và phù hợp qui định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những nhận định nên trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nguyên đơn, buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn N, bà Lê Thị L phải có nghĩa vụ trả cho Quỹ tín dụng nhân dân P 17.281.300đ, trong đó nợ gốc 15.000.000đ và nợ lãi trong hạn 2.281.300đ là phù hợp với qui định tại Điều 474 Bộ luật dân sự Tài sản bảo đảm nợ vay là đơn xin xác nhận nhà ở diện tích đất nhà 500m2, không phải là tài sản thế chấp để đảm bảo nợ vay, nên Tòa không xét.

Bà Lê Thị L không đến Tòa và cũng không có yêu cầu gì nên Tòa không xét.

[3] Về án phí: Ông Nguyễn Văn N, bà Lê Thị L phải chịu 5% của số nợ phải trả là: 17.281.300đ x 5% = 864.000đ, sung công quỹ nhà nước; Hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho Quỹ tín dụng nhân dân P.

Từ những nhận định trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Căn cứ vào các Điều 471, 474, 476 Bộ luật dân sự 2005; Điều 23 Nghị quyết số 03/2012 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân Tối cao; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Quỹ tín dụng nhân dân P.

1. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn N, bà Lê Thị L phải trả cho Quỹ tín dụng nhân dân P số tiền 17.281.300đ (Mười bảy triệu hai trăm tám mươi mốt ngàn ba trăm đồng), trong đó, nợ gốc: 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng), nợ lãi trong hạn 2.281.300đ (Hai triệu hai trăm tám mươi mốt ngàn ba trăm đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn N, bà Lê Thị L phải chịu 864.000đ (Tám trăm sáu mươi bốn ngàn đồng) sung công quỹ nhà nước.

Hoàn lại cho Quỹ tín dụng nhân dân P 530.000đ (N trăm ba mươi ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0003127, ngày 26 tháng 7 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phước.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông N, bà L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


19
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về