Bản án 15/2019/HNGĐ-ST ngày 02/07/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 15/2019/HNGĐ-ST NGÀY 02/07/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Trong ngày 02 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 44/2019/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2019 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 25/QĐST-HPT ngày 14/6/2019 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Chị Thị B, sinh năm 1987; Địa chỉ nơi cư trú: ấp 2, xã Minh L, huyện Chơn T, tỉnh Bình Phước;

*Bị đơn: Anh Điểu H, sinh năm 1987; Địa chỉ nơi cư trú: ấp 2, xã Minh L, huyện Chơn T, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 21 tháng 02 năm 2019. Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Thị B trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: sau thời gian tìm hiểu chị B và anh Điểu H quyết định chung sống với nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Minh Lập, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước theo đúng quy định pháp luật. Trước khi chung sống cả hai còn độc thân, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau tại ấp 2, xã Minh Lập, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước Trong quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng sống H phúc nhưng sau đó thường xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nguyên nhân là do anh Điểu H không quan tâm vợ con, không lo làm ăn mà chơi bời, nhậu nhẹt. Tháng 9/2017 anh H bỏ nhà ra ngoài sống và hai vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Từ khi anh H bỏ đi thì không liên lạc, cũng không về nhà thăm vợ con, mặt khác còn hù dọa gia đình chị B. Nay chị Thị B cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị B được ly hôn với anh Điểu H Về con chung: có 02 con chung tên Điểu Thanh P, sinh ngày 23/6/2009 và Điểu Thanh D, sinh ngày 18/7/2017. Hiện các con đang sống với chị B. Chị B yêu cầu được nuôi hai con chung và không yêu cầu anh Điểu H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có Đối với bị đơn anh Điểu H: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh H đến Tòa án làm việc, tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và giải cũng như tham gia phiên tòa nhưng anh H vắng mặt không có lý do chính đáng. Do đó, Tòa án không thể ghi nhận ý kiến, nguyện vọng, yêu cầu của anh H.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn: Chị Thị B có đơn xin xét xử vắng mặt, không cung cấp bổ sung thêm chứng cứ tài liệu nào khác.

- Bị đơn: Anh Điểu H vắng mặt mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh Điểu H vắng mặt không có lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành phát biểu ý kiến.

+ Việc chấp hành theo quy định pháp luật tố tụng

Về thành phần tham gia xét xử: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán và Hội đồng xét xử:

Tòa án lập biên bản nhận đơn khởi kiện đúng quy định tại Điều 191 Bộ luật tố tụng dân sự. Tiến hành thụ lý vụ án phân công thẩm phán giải quyết đúng quy định tại Điều 195, Điều 197 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp trong vụ án Ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành được định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 BLTTDS, việc Tòa án nhân dân huyện Chơn thành thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.

Thủ tục tiến hành phiên họp kiểm tra về giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải đảm bảo quy định tại Điều 206 đến Điều 211 BLTTDS Thời hạn chuẩn bị xét xử: Đúng quy định tại Điều 203, Điều 233 BLTTDS Quyết định đưa vụ án ra xét xử: Nội dung và hình thức đảm bảo quy định tại Điều 220 BLTTDS Về tống đạt văn bản tố tụng: Đúng quy định tại Điều 170, Điều 171, Điều 208 BLTTDS Về thời hạn chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát: Đảm bảo đúng quy định tại điều 220 BLTTDS Về thu thập chứng cứ: Đúng nguyên tắc về việc xác minh, thu thập chứng cứ quy định tại điều 97, 98 BLTTDS + Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Hội đồng xét xử thực hiện đúng định pháp luật của BLTTDS về phiên tòa sơ thẩm + Việc tuân thủ pháp luật của những người tham gia tố tụng:

Đi với đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 73 và Điều 234 BLTTDS Đối với bị đơn: Chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS

+ Quan điểm về giải quyết vụ án: Vụ án thuộc trường hợp kiểm sát viên phải tham gia phiên tòa theo quy định tại Điều 21, Điều 97 BLTTDS Qua nghiên cứu hồ sơ, tài liệu xét thấy: Chị Thị B và anh Điểu H chung sống với nhau vào năm 2009, có đăng lý kết hôn nên hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp. Trong quá trình chung sống hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, gây lộn nhau, hôn nhân giữa chị B và anh Điểu H không hòa hợp, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Thị B yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Điểu H.

Căn cứ Điều 9, Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Căn cứ vào lời khai nguyên đơn và các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử cho chị Thị B được ly hôn với anh Điểu H.

Về con chung: giao 02 con chung Điểu Thanh Phúc, sinh ngày 23/6/2009 và Điểu Thanh Duy, sinh ngày 18/7/2017 cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Điểu H không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về án phí nguyên đơn chịu theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Theo đơn khởi kiện và yêu cầu tại phiên tòa của nguyên đơn chị Thị B, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn” theo quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do bị đơn anh Điểu H có nơi cư trú tại ấp 2, xã Minh Lập, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

Tại phiên tòa vắng mặt bị đơn anh Điểu H nhưng do anh Điểu H đã được Tòa án nhiều triệu tập để giải quyết vụ án và xét xử nhưng anh Điểu H vắng mặt không có lý do chính đáng do đó căn cứ khoản 3 Điều 228 Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thị B, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2] Chị Thị B và anh Điểu H tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Minh Lập, huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước theo đúng quy định pháp luật nên hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp.

[3] Trong quá trình giải quyết vụ án chị B cho rằng vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do anh Điểu H không quan tâm vợ con, không lo làm ăn mà chơi bời, nhậu nhẹt, tới tháng 9/2017 anh H bỏ nhà ra ngoài sống và hai vợ chồng sống ly thân cho tới nay. Từ đầu năm 2019 hai vợ chồng đã sống ly thân. Điều này phù hợp với chứng cứ là biên bản xác minh ngày 18/3/2019 của Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã nhiều lần mở phiên hòa giải để động viên, thuyết phục và hàn gắn cho chị Thị B với anh Điểu H nhưng anh H vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ, còn chị B vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn. Xét thấy, giữa chị Thị B và anh Điểu H đã sống ly thân, không còn quan tâm nhau nữa và cũng không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị chị B cho chị B được ly hôn với anh Điểu H.

[4] Về con chung: chị B và anh Điểu H có 02 con chung tên Điểu Thanh P, sinh ngày 23/6/2009 và Điểu Thanh D, sinh ngày 18/7/2017. Hiện các con đang sống với chị B. Chị B yêu cầu được nuôi hai con sau khi ly hôn. Xét thấy, chị Thị B có nguyện vọng được nuôi con còn anh Điểu H không có ý kiến phản đối. Mặt khác, từ khi hai vợ chồng ly thân cho đến nay, con chung vẫn sống cùng chị B, cháu Điểu Thanh D chưa được 36 tháng tuổi nên cần sự chăm sóc của người mẹ. Vì vậy, cần giao 02 con chung cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về tài sản chung, nợ chung: không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Thị B phải chịu là 300.000đồng.

Vì các lẽ nêu trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 143, Điều 144, Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Thị B được ly hôn với anh Điểu H 2. Về con chung: Giao hai con chung Điểu Thanh P, sinh ngày 23/6/2009 và Điểu Thanh D, sinh ngày 18/7/2017 cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Điểu H không cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung, nợ chung: không có

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Thị B phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009886 ngày 27/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

5. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 15/2019/HNGĐ-ST ngày 02/07/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:15/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chơn Thành - Bình Phước
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 02/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về