Bản án 15/2018/HNGĐ-ST ngày 26/04/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ỨNG HOÀ - HÀ NỘI

BẢN ÁN 15/2018/HNGĐ-ST NGÀY 26/04/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 26 tháng 04 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 350/2017/TLST – HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2017 về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số : 13/2017/QĐXX– ST ngày 13 tháng 04 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Tr , Sinh năm 1986, Có mặt

2. Bị đơn: Anh Bùi Anh T, Sinh năm 1986

Hiện anh T đang chấp hành án tại : Phân trại 3, Trại giam Vĩnh Quang xã

Đạo Trù, huyện Tam Đảo, Tỉnh Vĩnh Phúc.

Cùng HKTT: Thôn K, xã Đ, huyện U, TP Hà Nội, ( Anh T có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản lấy lời khai - Nguyên đơn Chị Trần Thị Tr trình bầy : Chị kết hôn với anh Bùi Anh T do tự nguyện, có đăng ký kế hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Đại Cường, huyện Ứng Hòa, Tp Hà Nội năm 2010. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc được 3 năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chính chị nghi ngờ anh T ngoại tình và hiện nay đã có 2 con riêng đưa về gia đình ở quê sinh sống. Từ nhiều năm nay vợ chồng đã sống ly thân, anh T không còn quan tâm chăm sóc gì cho mẹ con chị. Hiện nay, anh T đang chấp hành án tại Phân trại 3- Trại giam Vĩnh Quang tỉnh Vĩnh Phúc. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, sau này anh T mãn hạn tù trở về vợ chồng cũng không thể tiếp tục chung sống được, chị xin được ly hôn để ổn định cuộc sống.

Tại bản tự khai ngày 12/01/2018 Bị đơn anh Bùi Anh T trình bày: Anh tự nguyện kết hôn với chị Trần Thị Tr có đăng ký tại UBND xã Đại Cường vào năm2010. Từ năm 2013 anh và chị Tr xảy ra nhiều mâu thuẫn về quan điểm sống nên từ đó vợ chồng sống ly thân . Anh đang chấp hành án tại Trại giam Vĩnh Quang. Nay anh được biết chị Tr làm đơn xin ly hôn anh, anh mong được tòa án giải quyết ly hôn sớm.

Về con chung đều xác nhận: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Bùi Thị Phương A, sinh ngày 16/11/2010 và cháu Bùi Thị Phương L, sinh ngày 26/4/2013. Khi ly hôn chị Tr xin nuôi 2 con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Anh T có quan điểm anh đang phải chấp hành án nên điều kiện không thể chăm sóc cho các con được, anh đồng ý để 2 cháu ở với Mẹ.

Về tài sản, công nợ chung: Anh T, chị Tr đều không đề nghị tòa giải quyết.

Tại phiên tòa :

- Chị Trần Thị Tr vẫn xin cương quyết xin được ly hôn và xin nuôi con.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa tham gia phiên tòa kết luận:

+ Về tố tụng : Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa đã thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, tiến hành tố tụng là đúng pháp luật. Người tham gia tố tụng được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung : Vợ chồng chị Trần Thị Tr và anh Bùi Anh T trong cuộc sống vợ chồng không hợp nhau, anh T ngoại tình dã có con riêng, vợ chồng không còn tình cảm với nhau , hai người sống ly thân nhiều năm nay. Chị Tr, anh T đều dề nghị được ly hôn. Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56, Điều 81,82,83 Luật HNGĐ năm 2014: Xử chị Trần Thị Tr được ly hôn anh Bùi Anh T; Giao chị Tr tiếp tục được nuôi cháu Phương A và Phương L; Chấp nhận sự tự nguyện của chị Tr không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con; Tài sản chung chị Tr, anh T không yêu cầu nên không giải quyết; Chị Tr phải nộp án phí theo qui định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

 [1] Về tố tụng : Nguyên đơn chị Trần Thị Tr đã nộp đơn cùng các tài liệu, chứng cứ theo quy định. Tranh chấp của vụ án là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình – Theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 36, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ứng Hòa, TP Hà Nội.

Trong quá trì giải quyết vụ án anh Bùi Anh T đang chấp hành án tại Trại giam Vĩnh Quang, tỉnh Vĩnh Phúc nên Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đối với anh T, anh T có đơn xin xét xử vắng mặt , căn cứ khoản 1 ĐIều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử cụ án.

 [2] Về quan hệ hôn nhân : Chị Trần Thị Tr và anh Bùi Anh T kết hôn do tự nguyện, có đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đại Cường, huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội vào năm 2010 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc được thời gian ngắn thì mâu thuẫn. Do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do anh T có quan hệ với người phụ nữ khác và đã có con riêng. Từ năm 2013 cho đến nay vợ chồng đã sống ly thân không ai còn quan tâm đến ai. Nguyên đơn, bị đơn đều xác nhận không còn tình cảm với nhau. Hiện anh Thao đang chấp hành án tại Trại giam Vĩnh Quang. Chị Tr xin ly hôn anh T cũng nhất trí và mong tòa giải quyết sớm.

Hội đồng xét xử xét thấy: Tình trạng hôn nhân, mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Tr anh Thao đã đến mức trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không thể kéo dài đơn xin ly hôn của chị Tr phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình nên hội đồng xét xử chấp nhận, xử cho chị Tr được ly hôn với anh T.

 [3] Về con chung : Vợ chồng sinh được 02 con chung là cháu Bùi Thị Phương A, sinh ngày 16/11/2010 và cháu Bùi Thị Phương L, sinh ngày 26/4/2013. Khi ly hôn chị Tr xin được nuôi cả 2 con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, hơn nữa nguyện vọng của các cháu xin được ở với mẹ. Anh T xác định đang phải chấp hành án nên không đảm bảo điều kiện để nuôi con . Anh nhất trí để cháu Phương L và Phương A ở với chị Tr. Xét yêu cầu xin được nuôi con của chị Tr là thỏa đáng . Để ổn định về nơi ở và đảm bảo quyền lợi cho con trẻ nên giao 2 cháu Phương A , Phương L cho chị Tr tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân gia đình. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Th cho đến khi có đề nghị thay đổi mới. Anh Th có quyền thăm con chung sau khi ly hôn không ai được cản trở là phù hợp với Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình

 [4] Về tài sản, công nợ chung : Chị Tr, anh T đều không yêu cầu giải quyết nên Tòa không giải quyết

 [5] Về án phí và quyền kháng cáo : Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phi và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì chị Trần Thị Tr phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[6] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ứng Hòa, kiểm sát viên tham gia phiên Tòa đã nhận xét về thủ tục tố tụng Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Quan điểm giải quyết vụ án đã phân tích, đánh giá mâu thuẫn của vợ chồng chị Trang, anh Thao và đề nghị Tòa xét xử cho chị Trang được ly hôn anh Thao, giao 2 cháu Phương Anh và Phương Linh cho chị Trang tiếp tục nuôi dưỡng.

Bởi các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào : Điều 56, 81, 82,83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 36, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, các Điều 271; 273; 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuyên xử : Chấp nhận đơn xin ly hôn của chi Trần Thị Tr .

1.Chị Trần Thị Tr được ly hôn anh Bùi Anh T.

2.Về con chung: Giao chị Trần Thị Tr tiếp tục nuôi 02 con chung là cháu Bùi Thị Phương A, sinh ngày 16/11/2010 và cháu Bùi Thị Phương L, sinh ngày 26/4/2013. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Thao cho đến khi có đề nghị, thay đổi mới. Anh T có quyền thăm con chung sau khi ly hôn, không ai được ngăn cản.

3.Về án phí : Chị Trần Thị Tr phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0008490 ngày 22/12/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ứng Hòa, chị Trang đã nộp đủ tiền án phí.

3.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày kể từ ngày tuyên án đối với chị Tr, kể từ ngày bản án được giao hợp lệ đối với anh T./.


32
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 15/2018/HNGĐ-ST ngày 26/04/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:15/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ứng Hòa - Hà Nội
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:26/04/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về