Bản án 15/2018/HNGĐ-ST ngày 10/05/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN H. TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 15/2018/HNGĐ-ST NGÀY 10/05/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 10 tháng 5 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 38/2018/TLST - HNGĐ ngày 26/02/2018 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2018/QĐST- HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2018/QĐST-HNGĐ ngày 02/5/2018 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Q, sinh năm 1974 (có mặt) Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh B.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Phương D, sinh năm 1976 (vắng mặt) Nơi cư trú: Thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn xin ly hôn đề ngày 06/02/2018, bản tự khai và biên bản lấy lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Vũ Thị Q trình bày:

Chị và anh D kết hôn năm 2011, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện T. Sau khi kết hôn, chị và anh D về chung sống với nhau một thời gian nhưng không có hạnh phúc, không hợp nhau, hay phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Nguyễn Phương D thường xuyên uống rượu, cờ bạc, hành hạ chị về thể xác lẫn tinh thần. Vợ chồng chị đã sống ly thân nhiều lần nhưng lần cuối cùng vào tháng 1/2017 cho đến nay, hai bên không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin được ly hôn anh D.

Về con chung, tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác, công sức đóng góp trong thời gian ở chung: Chị Q xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà hôm nay: Chị Q vẫn giữ nguyên đơn xin ly hôn và yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh D. Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung; Về tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác và công sức đóng góp trong thời gian ở chung.

* Đối với anh Nguyễn Phương D là bị đơn trong vụ án mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các giấy tờ nhưng tại các buổi hòa giải, làm việc của Tòa án anh D đều vắng mặt không có lý do và Tòa án đã thông báo cho anh D về việc các chứng cứ Tòa án đã thu thập có trong vụ án nhưng anh D không có ý kiến gì và không cung cấp cho Tòa án các tài liệu chứng cứ để chứng minh cho quyền lợi của mình.

Tại phiên tòa hôm nay anh Nguyễn Phương D vắng mặt.

Toà án cũng đã tiến hành mở phiên hoà giải nhiều lần để hoà giải về quan hệ vợ chồng, con chung, tài sản, công nợ, án phí, nhưng anh D từ bỏ quyền lợi của mình và đều không tiến hành hòa giải được do anh D vắng mặt.

* Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử là đảm bảo theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn chị Q chấp hành đúng các quy định của pháp luật, bị đơn anh D không chấp hành đúng quy định của pháp luật. Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Q, cho chị Q được ly hôn với anh D.

Về con chung; Về tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung của vợ chồng về tài sản, ruộng canh tác, nhà ở và quyền sử dụng đất: Chị Q xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên không xem xét.

Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Vũ Thị Q phải chịu 300.000 đồng.

Về quyền kháng cáo nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

*Về tố tụng: Anh Nguyễn Phương D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Nguyễn Phương D.

* Đối với yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn chị Vũ Thị Q, Hội đồng xét xử thấy:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Giữa chị Vũ Thị Q và anh Nguyễn Phương D xác lập quan hệ hôn nhân là tự nguyện, hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của luật hôn nhân và gia đình, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xãT, làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng và được coi là hôn nhân hợp pháp. Hội đồng xét xử xét thấy chị Q và anh D sau khi về chung sống thì không hợp nhau, qua xác minh ở địa phương và ý kiến của gia đình cũng thể hiện nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do trong cuộc sống anh D thường xuyên uống rượu, không chịu làm ăn, mặc dù đã được chị Q và gia đình khuyên bảo. Vợ chồng chị Q và anh D đã ly thân nhiều lần nhưng lần cuối cùng là từ tháng 01/2017. Vì vậy, xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Q và anh D đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận đơn ly hôn của chị Q là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2] Về con chung: Chị Q xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[3] Về tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác, công sức đóng góp trong thời gian ở chung: Chị Q xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí: Chị Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại điều 271, khoản 1 điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày30/12/2016 của Ủy ban  thường vụ Quốc hội.

Xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vũ Thị Q được ly hôn anh Nguyễn Phương D.

[2] Về con chung: Chị Q xác định không có, Tòa án không xem xét giải quyết.

 [3] Về tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác, công sức đóng góp trong thời gian ở chung: Chị Q xác định không có, Tòa án không xem xét giải quyết.

[4] Án phí: Chị Vũ Thị Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số AA/2017/0001834 ngày 26/02/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Yên. Xác nhận chị Vũ Thị Q đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

[5] Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.


59
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 15/2018/HNGĐ-ST ngày 10/05/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:15/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tân Yên - Bắc Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:10/05/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về