Bản án 150/2017/HSST ngày 24/07/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 150/2017/HSST NGÀY 14/11/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 24/7/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 143/2017/HSST, ngày 19/6/2017, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2017/QĐXX-HSST ngày 10/7/2017 đối với bị cáo:

Trần Văn Kh, sinh năm 1985; HKTT tại: Khu dân cư Mật S, phường Chí M, thị xã Chí L, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 11/12; Bố đẻ: Trần Văn K, sinh năm 1965; Mẹ đẻ: Hoàng Thị Ph, sinh năm 1967; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là thứ nhất. Vợ là: Vy Thị Thủy T, sinh năm 1994; Có 01 con sinh năm 2015; Tiền án; Tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 17/11/2004 Công an TX Chí Linh, tỉnh Hải Dương xử phạt hành chính phạt tiền về hành vi Trộm cắp tài sản. Ngày 17/11/2004 đã chấp hành xong.

Ngày 18/4/2005 Chủ tịch UBND huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương ra quyết định đưa vào Trung tâm giáo dục lao động xã hội thời hạn 02 năm; ngày 18/4/2007 chấp hành xong.

Ngày 11/4/2008 Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, TP Hài Phòng xử 03 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Ngày 09/10/2010 chấp hành xong hình phạt tù; ngày 06/7/2010 chấp hành xong án phí;

Ngày 14/7/2015 Công an TX Chí Linh xử phạt hành chính (phạt tiền) về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy; Ngày 14/7/2017 chấp hành xong; Xử phạt hành chính (phạt tiền) về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 17/8/2015 chấp hành xong.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/3/2017 đến nay (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung bản án được tóm tắt như sau: Khoảng 20h45 ngày 21/3/2017 Kh đi xe ôm từ nhà đến Kiều Lương, Đức Long, Quế Võ với mục đích để mua ma túy sử dụng. Đến nơi, Kh gặp một người phụ nữ khoảng 40 tuổi nhìn có dáng vẻ người bán ma túy nên Kh hỏi mua ma túy của người phụ nữ đó. Người phụ nữ nhất trí. Kh đưa cho người đó 200.000đ. người phụ nữ cầm tiền và đưa cho Kh 01 gói giấy bạc màu trắng. Kh biết đólà ma túy nên cầm trong lòng bàn tay rồi đi bộ ra phía đường quốc lộ 18. Kh đi được một đoạn thì bị công an kiểm tra bắt giữ cùng tang vật.

Vật chứng thu giữ gồm: Thu tại lòng bàn tay phải của Kh 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng được niêm phong trong phong bì thư.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tôi cuả mình như cáo trạng đã nêu là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo đủ yêu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy;

Tại bản kết luận giám định số 460/KLGĐ-PC54 ngày 22/3/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Chất bột màu trắng trong 01 gói giấybạc màu trắng có trọng lượng 0,2826g; Là ma túy; Loại ma túy: Chất Heroine”

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì đối với kết luận giám định.

Bản cáo trạng số 103/CTr-VKS ngày 19/6/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh truy tố Trần Văn Kh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ phân tích lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa phù hợp với nhau; Phù hợp với biên bản phạm pháp quả tang và toàn bộ các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội cuả bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Kh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 194; Điều 33; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội xử phạt Trần Văn Kh từ 20 đến 26 tháng tù (được trừ thời gian tạm giữ tạm giam)

Đề nghị áp dụng Điều 41 BLHS; Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủytang vật là số ma túy còn lại sau giám định.

Bị cáo nhận tội không tham gia tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt;

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quế Võ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra,

truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định cuả Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định cuả Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Nội dung vụ án đã thể hiện rõ: Hồi 21h40 ngày 21/3/2017 Trần Văn Kh đang có hành vi tàng trữ 0,2826gam loại ma túy chất Heroine tại khu vực thôn Kiều Lương, xã Đức Long, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh thì bị công an phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” phạm vào khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là hoàn toàn phù hợp, có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật;

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Tệ nạn ma túy làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế, xã hội cuả Nhà nước, việc đấu tranh đối với các tội phạm về ma túy hiện nay là nhiệm vụ cuả toàn Đảng, toàn dân. Nhà nước ta có nhiều chủ trương, chính sách để bài trừ tệ nạn này. Bất chấp sự ngăn cấm cuả pháp luật, bị cáo đã có hành vi tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân nên đã đi vào con đường phạm tội. Hành vi cuả bị cáo đã tiếp tay làm gia tăng tệ nạn ma túy trên địa bàn dân cư. Vì vây, cần xét xử bị cáo kịp thời và có hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân;

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cuả bị cáothì thấy;

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 17/11/2004 Công an TX Chí Linh, tỉnh Hải Dương xử phạt hành chính phạt tiền về hành vi Trộm cắp tài sản. Ngày 17/11/2004 đã chấp hành xong; Ngày 18/4/2005 Chủ tịch UBND huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương ra quyết định đưa vào Trung tâm giáo dục lao động xã hội thời hạn 02 năm; ngày 18/4/2007 chấp hành xong; Ngày 11/4/2008 Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, TP Hài Phòng xử 03 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Ngày 09/10/2010 chấp hành xong hình phạt tù; ngày 06/7/2010 chấp hành xong án phí; Ngày 14/7/2015 Công an TX Chí Linh xử phạt hành chính (phạt tiền) về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy;

Ngày 14/7/2017 chấp hành xong; Xử phạt hành chính (phạt tiền) về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 17/8/2015 chấp hành xong; Bị cáo không chịu tu dưỡng, sửa đổi bản thân mà vẫn có hành vi vi phạm pháp luật nên đây là những tình tiết cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm p khoản 1 điều 46 BLHS

Mặt khác Bộ luật hình sự 2015 đã được thông qua ngày 09/12/2015 tuy đến nay chưa có hiệu lực nhưng với tinh thần của bộ luật mới và với nguyên tắc có lợi cho bị cáo nên cần áp dụng Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 để cân nhắc quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Từ những phân tích trên xét cần có hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới đủ giáo dục đối với bị cáo;

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện hút ma túy nên xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho Khánh, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi địa chỉ, cơ quan điều tra tách ra khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp;

Về vật chứng: Áp dụng điều 76 BLTTHS; Điều 41 BLHS tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định;

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định cuả pháp luật; Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Văn Kh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy;

Áp dụng khoản 1 Điều 194; Điều 33; Điểm p, khoản 1, Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 99; Điều 228 BLTTHS; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội

Xử phạt: Trần Văn Kh 26 (Hai sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2017; Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;

Áp dụng điều 41 BLHS; Điều 76 BLTTHS; Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định có đặc điểm như mô tả tại biên bản bàn giao vật chứng ngày 19/6/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Võ.

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;


88
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về