Bản án 148/2019/HS-ST ngày 20/11/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 148/2019/HS-ST NGÀY 20/11/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 20 tháng 11 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 149/2019/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 149/2019/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 11 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Họ và Tên: Hoàng Kiên T (Tên gọi khác: Không); Sinh năm 1977, tại N. NĐKHKTT:Khu tập thể ga N, phố T, phường T, thành phố N, tỉnh N. Nơi ở hiện nay: số nhà 15, ngõ 600, đường N, phố T, phường N, thành phố N, tỉnh N. Nghề nghiệp: Cán bộ ga C; Trình độ văn hoá: 12/12; Là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam sinh hoạt tại chi bộ ga cầu Y, đảng bộ chi nhánh khai thác đường sắt H. Đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 104-QĐ/ĐU ngày 31/10/2019. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Hoàng Văn T(đã chết) và con bà Nguyễn Thị G ; Vợ: Vũ Thị H; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2007.

Tin án, tiền sự: Chưa có;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 30/09/2019 đến ngày 03/10/2019 được áp dụng biện pháp ngăn chặn“Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay, (có mặt).

2. Họ và Tên: Nguyễn Trung K (Tên gọi khác: Không); Sinh năm 1981, tại N;

NĐKHKTT: Khu tập thể ga N, phố T, phường T, thành phố N, tỉnh N. Nơi ở hiện nay: số nhà 37B, ngõ 497, đường N, phường B, thành phố N, tỉnh N. Nghề nghiệp: công nhân đường sắt ga N; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Nguyễn Văn C (đã chết) và con bà Nguyễn Thị Đ ; Vợ: Hà Thị Thu T ; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Chưa có;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 30/09/2019 đến ngày 03/10/2019 được áp dụng biện pháp ngăn chặn“Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay, (có mặt).

3. Họ và Tên: Bùi Lê S (Tên gọi khác: Không); Sinh năm 1972, tại N; NĐKHKTT: số nhà 11, đường Mai Hắc Đ, khu phố 10, phường N, thị xã B, tỉnh T. Nghề nghiệp: Giám đốc chi nhánh vận tải đường sắt B. Trình độ văn hoá: 12/12; Là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam sinh hoạt tại chi bộ cơ quan chi nhánh vận tải đường sắt B, đảng bộ chi nhánh vận tải đường sắt B. Đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 209-QĐ/ĐU ngày 04/11/2019. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Bùi Thái C và con bà Lê Thị O; Vợ: Lê Thị P; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2017.

Tin án, tiền sự: Chưa có;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 30/09/2019 đến ngày 03/10/2019 được áp dụng biện pháp ngăn chặn“Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay, (có mặt).

4. Họ và Tên: Phạm Thế C (Tên gọi khác: Không); Sinh năm 1980, tại T; NĐKHKTT:, khu phố 14, phường N, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa. Nghề nghiệp: Phó phòng Kinh doanh chi nhánh vận tải đường sắt B. Trình độ văn hoá: 12/12; Là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam sinh hoạt tại chi bộ cơ quan chi nhánh vận tải đường sắt B, đảng bộ chi nhánh vận tải đường sắt B. Đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 210-QĐ/ĐU ngày 04/11/2019. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Phạm Hoàng H và con bà: Phạm Thị V ; Vợ: Nguyễn Thị T; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2011.

Tin án, tiền sự: Chưa có;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 30/09/2019 đến ngày 03/10/2019 được áp dụng biện pháp ngăn chặn“Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay, (có mặt).

5. Họ và Tên: Nguyễn Ngọc C (Tên gọi khác: Không); Sinh năm 1974, tại N; NĐKHKTT: Khu tập thể ga N, phố T, phường T , thành phố N, tỉnh N. Nơi ở hiện nay: phố Chu Văn A, phường N, thành phố N, tỉnh N. Nghề nghiệp: Công nhân. Trình độ văn hoá:

12/12; Là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam sinh hoạt tại chi bộ trạm vận tải đường sắt N, đảng bộ chi nhánh vận tải đường sắt B. Đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 211-QĐ/ĐU ngày 04/11/2019. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Nguyễn Ngọc B (đã chết) và con bà: Nguyễn Thị S; Vợ: Bùi Thị B;

Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2012.

Tin án, tiền sự: Chưa có;

Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn“Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 16/10/2019 cho đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

c bị cáo Hoàng Kiên T, Nguyễn Trung K, Bùi Lê S, Phạm Thế C, và Nguyễn Ngọc C đều là cán bộ, công nhân trong ngành đường sắt nên có quen biết nhau. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 29/9/2019, các bị cáo Hoàng Kiên T, Nguyễn Trung K, Bùi Lê S, Phạm Thế C ngồi uống bia cùng nhau tại khu vực hồ máy xay thuộc phường Đ, thành phố N. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, bị cáo T rủ các bị cáo S, K, C đánh bạc, cả hội đồng ý. Bị cáo T sử dụng điện thoại di động hiệu Iphone 6S số thuê bao số 0912336782 gọi đến số thuê bao 0917793300 của bị cáo Nguyễn Ngọc C hỏi “Anh có nhà không, cho em mượn nhà làm tý”. Thấy bị cáo T nói vậy bị cáo C hiểu ý bị cáo T mượn nhà để đánh bạc được thua bằng tiền nên bị cáo C trả lời “Ừ”. Sau đó T, S, C đi bộ đến nhà C ở phố Chu Văn A, phường N, thành phố N trước, còn K điều khiển xe mô tô hiệu Honda Dream II biển kiểm soát 35B2- 416.64 đi mua 01 bộ bài chắn. Do K không nhớ đường đến nhà C, C đã dùng điện thoại hiệu Oppo số thuê bao 0917793300 gọi đến số thuê bao 0912576622 của K để chỉ đường cho K. Thấy K đến C lấy 01 chiếc chiếu nhựa rồi dẫn cả hội lên phòng thờ ở tầng 2 nhà C để S, C, T, K ngồi đánh bạc bằng hình thức đánh Chắn được thua bằng tiền. Tất cả sử dụng 01 bộ bài Chắn 100 quân do bị cáo K mua và 01 đĩa bằng sứ màu trắng đường kính khoảng 14 cm ở nhà C làm công cụ đánh bạc. Cả 4 bị cáo thống nhất mỗi ván người thua sẽ phải trả cho người thắng là (Ù xuông 40.000 đồng, mỗi dịch được cộng thêm 20.000 đồng). Cách thức chơi là dùng bộ bài Chắn 100 quân chia đều thành 05 phần, mỗi phần 20 quân, sau đó rút ở 04 phần, mỗi phần 01 quân bỏ vào phần còn lại thành 24 quân để dưới đĩa gọi là nọc, người nào đánh đầu tiên được chia thêm 01 quân từ nọc. Ván đầu tiên 01 người chơi bốc 01 quân dưới nọc sau đó đếm từ người bốc lần lượt từ phải qua trái đến người cuối cùng là người đánh đầu tiên, các ván tiếp theo người nhất là người bốc bài, ai ù là người thắng, nếu hai hoặc ba người cùng ù thì quân bài vào cửa của nhà ai trước thì người đó được ù trước. Khi các đối tượng đánh bạc, C ngồi xem 02 ván thì đi ngủ và không thu tiền hồ của các đối tượng. Các bị cáo T, K, S, C đánh bạc đến 00 giờ 15 phút ngày 30/09/2019 thì bị Tổ công tác Công an phường N phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trên chiếu bạc số tiền là 7.180.000 đồng, 01 bộ bài Chắn 100 quân, 01 đĩa bằng sứ đường kính 14 cm, 01 chiếu nhựa màu xanh. Thu giữ trong người Hoàng Kiên T 2.500.000 đồng, bị cáo Bùi Lê S là 4.550.000 đồng, bị cáo Nguyễn Trung K là 5.000.000 đồng, bị cáo Phạm Thế C là 4.250.000 đồng. Toàn bộ số tiền trên người các bị cáo thừa nhận đều sẽ dùng để tham gia đánh bạc. Tổng số tiền thu giữ của các bị cáo là: 23.480.000 đồng gồm: số tiền thu tại chiếu bạc là 7.180.000 đồng và số tiền thu giữ trong người của các bị cáo. Ngoài ra còn thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu xám của Hoàng Kiên T, 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen của Phạm Thế C, 01 điện thoại di động di động hiệu Iphone 7 màu đen của Bùi Lê S, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu vàng trắng và 01 xe mô tô hiệu Honda Dream II biển kiểm soát 35B2- 416.64 của Nguyễn Trung K, 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng trắng của Nguyễn Ngọc C.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Hoàng Kiên T, Nguyễn Trung K, Bùi Lê S, Phạm Thế C, Nguyễn Ngọc C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

Ti bản cáo trạng số 153/CT-VKS ngày 31/10/2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố các bị cáo Hoàng Kiên T, Nguyễn Trung K, Bùi Lê S, Phạm Thế C, Nguyễn Ngọc C về tội “Đánh bạc” theo khoản 1, khoản 3 Điều 321 BLHS.

Đi diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo, đã luận tội, tranh luận; phân tích đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đặc điểm nhân thân của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Hoàng Kiên T, Nguyễn Trung K, Bùi Lê S, Phạm Thế C, Nguyễn Ngọc C về tội “Đánh bạc”. Áp dụng: khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Hoàng Kiên T, Nguyễn Trung K, Nguyễn Ngọc C. Áp dụng: khoản 1 Điều 321, điểm i, s, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Bùi Lê S, Phạm Thế C.

Đề nghị xử phạt các bị cáo: Bị cáo Hoàng Kiên T từ 28.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng; Bị các Nguyễn Trung K từ 25.000.000 đồng đến 28.000.000 đồng; Bị cáo Bùi Lê S và bị cáo Phạm Thế C mỗi bị cáo từ 22.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng; Bị cáo Nguyễn Ngọc C từ 20.000.000 đồng đến 22.000.000 đồng.

Xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 23.480.000đ tiền thu tại chiếu bạc và thu trên người các bị cáo đã và sẽ dùng vào việc đánh bạc;

- Tịch thu sung vào nhân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu xám thu giữ của Hoàng Kiên T, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu vàng trắng thu giữ của Nguyễn Trung K, 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng trắng thu giữ của Nguyễn Ngọc C đây là điện thoại các bị cáo dùng làm phương tiện liên lạc phạm tội.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài chắn 100 quân, 01 đĩa sứ màu trắng, 01 chiếu nhựa màu xanh không còn giá trị sử dụng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Các bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều công khai, hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 22/9/2019, sau khi nhận được điện thoại của bị cáo Hoàng Kiên T hỏi mượn nhà để đánh bạc thì bị cáo Nguyễn Ngọc C đã đồng ý cho mượn nhà của mình ở phố Chu Văn A, phường N, thành phố N để các bị cáo Hoàng Kiên T, Nguyễn Trung K, Bùi Lê S, Phạm Thế C đánh bạc bằng hình thức đánh chắn được thua bằng tiền với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 23.480.000 đồng trong đó thu trên chiếu bạc là 7.180.000 đồng và số tiền thu giữ trong người các bị cáo gồm: bị cáo Hoàng Kiên T 2.500.000 đồng, bị cáo Bùi Lê S là 4.550.000 đồng, bị cáo Nguyễn Trung K là 5.000.000 đồng, bị cáo Phạm Thế C là 4.250.000 đồng. Các bị cáo đều thừa nhận số tiền thu trong người sẽ dùng để tham gia đánh bạc.

Như vậy, tổng số tiền thu tại chiếu bạc và thu giữ trong người các bị cáo có căn cứ xác định đã và sẽ dùng vào việc đánh bạc là 23.480.000 đồng và tất cả những người tham gia đánh bạc đều phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền nói trên. Do đó các bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính nghiêm trọng nó đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ, do đó cần phải xử lý nghiêm minh tương xứng với tính chất mức độ phạm tội từng bị cáo mục đích giáo dục, cải tạo các bị cáo và góp phần phòng ngừa chung.

Đây là vụ án có nhiều bị cáo tham gia, nhưng mang tính đồng phạm giản đơn, khi quyết định hình phạt cần xem xét đến vị trí vai trò của từng bị cáo, đồng thời xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để cá thể mức hình phạt cho phù hợp đối với các bị cáo cụ thể như sau:

Đi với bi cáo Hoàng Kiên T là người khởi xướng rủ S, K, C đánh bạc, T dùng điện thoại gọi điện cho C mượn nhà để các bị cáo đến chơi, được sự đồng ý của C cho các bị cáo đến nhà đánh bạc, trong quá trình đánh bạc T sử dụng 5.200.000 đồng, khi bị bắt T có 6.400.000 đồng (Thắng 1.200.000 đồng). Như vậy, bị cáo T chịu trách nhiệm cao nhất với vai trò đầu vụ án.

Bị cáo Nguyễn Trung K, sau khi T khởi xướng, K hưởng ứng tích cực, đi mua bài, số tiền K sử dụng đánh bạc nhiều nhất là 6.400.000 đồng, khi bị bắt K có 6.700.000 đồng (Thắng 300.000 đồng), bị cáo K chịu trách nhiệm sau bị cáo T.

Đi với bị cáo Bùi Lê S và bị cáo Phạm Thế C là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, khi chơi bạc S sử dụng số tiền 5.930.000 đồng, khi bị bắt có 4.200.000 đồng, (thua 1.700.000 đồng); C sử dụng số tiền 5.950.000 đồng, khi bị bắt có 6.130.000 đồng (thắng 200.000 đồng). Khi quyết định hình phạt bị cáo S và C có vai trò, chịu trách nhiệm hình sự bằng nhau, thấp hơn K.

Bị cáo Nguyễn Ngọc C biết rõ các bị cáo sử dụng nhà mình đánh bạc, C không có hành động phản đối mà đồng ý cho đánh bạc tại nhà mình, C là người chuẩn bị chiếu, đĩa sứ tại nhà để làm công cụ đánh bạc, mặc dù không tham gia đánh bạc nhưng C chịu trách nhiệm đồng phạm với các bị cáo với vai trò giúp sức về địa điểm, trong vụ án này, bị cáo chịu trách nhiệm hình sự thấp nhất trong vụ án.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Bùi Lê S, Phạm Thế C đã có nhiều thành tích xuất sắc trong quá trình công tác đã được đơn vị khen thưởng: bị cáo S được Bằng khen của Tổng liên đoàn lao động năm 2017; Bằng khen của Tổng công ty đường sắt Việt nam năm 2004 và các khen thưởng trong hoạt động thi đua hàng năm; bị cáo C được khen thưởng Cá nhân an toàn suất sắc năm 2016; đoàn viên công đoàn suất sắc nhiều năm nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

c bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

c bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt. Trong vụ án này có các bị cáo T, S, Thế C, Ngọc C là các đảng viên đã bị Đình chỉ sinh hoạt Đảng.

Xét thấy các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, xâm phạm trật tự công cộng, đánh bạc mục đích sát phạt nhau bằng tiền, do vậy áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

[3] Các vấn đề khác:

- Xử lý vật chứng

+ Đối với số tiền 23.480.000đ, đây là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

+ Đối với 01 bộ bài Chắn 100 quân; 01 đĩa sứ đường kính 14cm; 01 chiếu nhựa màu xanh. Xét thấy, các vật dụng trên là công cụ phương tiện phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

+ Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu xám thu giữ của bị cáo Hoàng Kiên T, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu vàng trắng thu giữ của bị cáo Nguyễn Trung K, 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng trắng thu giữ của bị cáo Nguyễn Ngọc C, đây là công cụ, phương tiện các bị cáo liên lạc với nhau để đánh bạc cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

+ Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen thu giữa của bị cáo Phạm Thế C, 01 điện thoại di động di động hiệu Iphone 7 màu đen thu giữ của bị cáo Bùi Lê S. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến việc đánh bạc. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trả lại cho C và S là đúng quy định của pháp luật.

+ Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Dream II biển kiểm soát 35B2- 416.64 thu giữ của bị cáo Nguyễn Trung K. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là của chị Nguyễn Thị Thu H sinh năm 1985 trú tại phường T, thành phố N. Ngày 28/9/2019 bị cáo K mượn xe của chị H để đi làm. Chị H không biết việc bị cáo K sử dụng chiếc xe mô tô trên đi đánh bạc. Ngày 25/10/2019 chị H đã có đơn xin lại tài sản trên. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị H là đúng quy định của pháp luật, chị H đã nhận lại tài sản trên và không có đề nghị gì.

- Về án phí: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định;

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho các bị cáo Hoàng Kiên T, Nguyễn Trung K, Bùi Lê S, Phạm Thế C, Nguyễn Ngọc C; Áp dụng thêm điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo Bùi Lê S và bị cáo Phạm Thế C.

Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Kiên T, Nguyễn Trung K, Bùi Lê S, Phạm Thế C, Nguyễn Ngọc C phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt:

- Bị cáo Hoàng Kiên T 30.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

- Bị cáo Nguyễn Trung K 28.000.000 đồng, sung vào ngân sách Nhà nước.

- Bị cáo Bùi Lê S 24.000.000 đồng để vào ngân sách Nhà nước.

- Bị cáo Phạm Thế C 24.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

- Bị cáo Nguyễn Ngọc C 20.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

2. Vt chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 23.480.000 đồng. (Số tiền 23.480.000 đồng CQCSĐT Công an thành phố Ninh Bình đã chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N tại kho bạc Nhà nước N, theo ủy nhiệm chi số 217 ngày 07 tháng 11 năm 2019).

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu xám; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 Plus màu vàng trắng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu vàng trắng.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài Chắn 100 quân; 01 đĩa sứ đường kính 14cm; 01 chiếu nhựa màu xanh.

(Đc điểm, chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/11/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Hoàng Kiên T, Nguyễn Trung K, Bùi Lê S, Phạm Thế C, Nguyễn Ngọc C mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trưng hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


25
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 148/2019/HS-ST ngày 20/11/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:148/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Ninh Bình - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 20/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về