Bản án 147/2019/HNGĐ-ST ngày 30/08/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 147/2019/HNGĐ-ST NGÀY 30/08/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 30 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 172/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2019 về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3247/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Phương Th, sinh năm 1994; nơi cư trú: Số 41/68/279 Đà N, phường Cầu Tr, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Ph; có mặt.

- Bị đơn: Anh JANG S, sinh năm 1978; nơi cư trú: #209 beonji Yongdap- dong Seongdong-gu Seoul-si, Hàn Quốc; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn, các bản tự khai, nguyên đơn là chị Vũ Phương Th trình bày:

Qua sự giới thiệu của một người bạn, chị đã quen biết anh JANG S. Sau một thời gian tìm hiểu và thường xuyên liên lạc nói chuyện qua điện thoại, tháng 10 năm 2018 anh JANG S về Việt Nam. Ngày 29 tháng 10 năm 2018, anh chị tổ chức lễ đính hôn. Sau đó, chị và anh JANG S tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 15 tháng 01 năm 2019 tại Ủy ban nhân dân quận Ngô Q, thành phố Hải Ph. Sau khi đăng kí kết hôn, anh JANG S ở lại một hôm rồi về Hàn Quốc. Hai bên vẫn giữ liên lạc đến tháng 3 năm 2019, anh JANG S về thăm chị một lần nữa nhưng do bất đồng ngôn ngữ nên anh chị thường xuyên cãi nhau. Do mỗi người một nơi chị ở Việt Nam còn anh ở Hàn Quốc nên chỉ có thể liên lạc qua điện thoại, mâu thuẫn càng ngày càng lớn và khó giải quyết. Anh JANG S bảo chị phải sang Hàn Q sống với mẹ chồng, chị không đồng ý nên anh chị cãi nhau và anh JANG S có những lời lẽ xúc phạm chị.Hiện nay, anh JANG S không liên lạc thăm hỏi chị và chị cũng không thể liên lạc được với anh JANG S, không ai quan tâm đến ai về vật chất và tinh thần. Vì vậy, anh chị muốn hủy bỏ cuộc hôn nhân này. Hai bên suy nghĩ rất nhiều và đã cùng nhau viết đơn ly hôn.

Về con chung và tài sản chung: Chị và anh JANG S không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo đơn xin ly hôn ngày 29 tháng 5 năm 2019 của anh JANG Scó chứng thực của Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Q thì:

Anh và chị Vũ Phương Th quen nhau qua một người bạn giới thiệu được mấy ngày thì hai bên làm lễ đính hôn nhỏ tại nhà hàng rồi anh về Hàn Quốc. Chị Th ở Việt Nam làm giấy tờ và sau đó anh sang Việt Nam lần thứ hai để đăng ký kết hôn. Nhưng do bất đồng ngôn ngữ và tính cách chị Vũ Phương Th thô lỗ cục cằn, anh chị thường xuyên cãi nhau và anh không thể chấp nhận được tính cách của chị Th nên quyết định viết đơn ly hôn.

Về con chung và tài sản chung: Anh và chị Vũ Phương Th không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh JANG S đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt anh và anh không có kháng cáo bản án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thẩm quyền: Chị Vũ Phương Th có đơn xin ly hôn anh JANG S đang cư trú tại Hàn Quốc nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Anh JANG S và chị Vũ Phương Th vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt họ.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Phương Th và anh JANG S kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân quận Ngô Q, thành phố Hải Phòng vào ngày 15 tháng 01 năm 2019 nên là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Chị Vũ Phương Th và anh JANG Sthống nhất về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng và cùng yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn. Xét việc Chị Vũ Phương Th và anh JANG Scùng thuận tình ly hôn là tự nguyện do mục đích hôn nhân không đạt được là phù hợp quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và Gia đình, do vậy chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Vũ Phương Th và anh JANG S theo quy định khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[5] Về con chung và tài sản chung: Chị Vũ Phương Th và anh JANG S không có con chung và tài sản chung không có, không yêu cầu giải quyết.

[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Vũ Phương Th phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vàocác Điều 51,Điều 55 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Vũ Phương Th và anh JANG S được ly hôn.

2. Về con chung và tài sản chung: Chị Vũ Phương Th và anh JANG S không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:Chị Vũ Phương Th phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị Th đã nộp đủ số tiền trên theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí Tòa án số AA/2016/0001957 ngày 30 tháng 7 năm 2019 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.

4. Về Q kháng cáo:

Chị Vũ Phương Th được Q kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Anh JANG S được Q kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

5. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.


67
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 147/2019/HNGĐ-ST ngày 30/08/2019 về ly hôn

Số hiệu:147/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:30/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về