Bản án 145/2019/HSST ngày 29/11/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 145/2019/HSST NGÀY 29/11/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 29 tháng 11 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sông Mã, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 142/2019/HSST ngày 15 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 133/2019/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Lành Văn Ph, sinh năm 1986, tại huyện S M, tỉnh Sơn La Trú tại: Bản Pá B, xã Chiềng Kh, huyện S M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Xinh Mun; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt nam; Con ông Lành Văn M và bà Vì Thị É; có vợ và 02 con.

Tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự. 28/3/2019 bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, chưa hết tiền sự. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, được tại ngoại và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

2. Lò Văn D, sinh năm 1997, tại huyện S M, tỉnh Sơn La Trú tại: Bản Pá B, xã Chiềng Kh, huyện S M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 02/12; Dân tộc: Xinh Mun; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt nam; Con ông Lò Văn Đ (đã chết) và bà Lành Thị Ph; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự. Ngày 28/3/2019 bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, chưa hết tiền sự. Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/6/2019 cho đến nay; có mặt.

* Bị hại: Bà Đoàn Thị Ch, sinh năm 1973. Trú tại: Bản Co T, xã Chiềng Kh, huyện S M, tỉnh Sơn La. Có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà Giáp Thị Ph, sinh năm 1977. Trú tại: Tổ dân phố n, thị trấn S M, huyện S M, tỉnh Sơn La; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 16 gi ngày 25/3/2019 Lành Văn Ph, SN 1986 trú tại bản Pá B, Chiềng Kh, S M, Sơn La đến nhà Lò Văn D, SN 1997 ở cùng bản để chơi, sau đó Ph ở lại ăn cơm, uống ượu cùng gia đình D. Đến khoảng 23 gi cùng ngày, còn lại Ph và D ngồi uống rượu nên D hỏi Ph biết chỗ nào có gà, vịt không? đi trộm về ăn, Phỏng nói “nhà chị Đoàn Thị Ch - SN 1973 ở bản Co T, Chiềng Kh có nuôi nhiều ngỗng” nên D rủ Ph đi bắt trộm và được Ph đồng ý. Ph mang theo 01 con dao tông còn D mang theo 01 bao tải dứa, sau đó D và Ph cùng đi bộ đến nhà chị Ch. Quan sát thấy khu thả ngỗng của chị Ch ở sau nhà, nên D và Ph đi qua ruộng đến khu vư n nhãn của chị Ch rồi đi đến khu vực đất ở và chăn nuôi được rào bao quanh bằng thép B40 của chị Ch. Thấy chị Ch đã đóng cửa nhà đi ngủ có thắp bóng đèn sáng ở bếp, D lấy con dao tông chỗ Ph rồi tháo mối nối của hàng rào thép, còn Ph ngồi gần đó để canh người qua lại. Khoảng 10 phút sau D tháo được khoảng chục mối nối rào thép nên D và Ph đi vào trong vư n, sau đó D đi đến chỗ nuôi nhốt ngỗng rồi mở cổng chuồng ngỗng để đuổi đàn ngỗng ra ngoài bắt, còn Ph cầm bao đợi, D đuổi bắt được 03 con ngỗng cho vào bao, sau đó đến lượt D cầm bao để Ph đuổi bắt được 04 con ngỗng. Sau khi bắt được 07 con ngỗng, Ph vác bao đựng ngỗng đi về trước theo lối đã vào, D đi theo sau, khi đi được khoảng 200m, Phỏng bị vấp ngã làm bao đựng ngỗng dơi xuống đất và 01 con ngỗng xổng ra ngoài, do tr i tối và sợ bị phát hiện nên D, Ph không đuổi bắt lại mà vác bao tải chứa 6 con ngỗng đi về nhà D. Sau đó Ph và D đem 06 con ngỗng chia vào 02 bao tải dứa mỗi bao 03 con rồi Phỏng đi đun nước để làm thịt. Đến khoảng 03 gi ngày 26/3/2019, D lấy điện thoại gọi cho Tòng Văn H, SN 1998 trú tại bản Nà S, Chiềng S, S M để hỏi bán 03 con ngỗng, lúc này H đang ở nhà nghỉ Hoài An tại Tổ dân phố 7 thị trấn Sông Mã cùng Tòng Văn Ng - SN 1998 ở cùng bản và Lư ng Văn Y - SN 1997 trú tại bản Nà H 1, Nà Ngh, S M. Nghe D hỏi bán 03 con ngỗng do trộm cắp mà có nên H đồng ý mua với giá 400.000VNĐ. Đến khoảng 05 gi cùng ngày, H mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS 26C1-189.42 của Ý để cùng Ngoan đi xuống bản Pá B, Chiềng Khoong. Khi đi đến giữa bản Pá B, H gọi điện cho D rồi D bảo Ph xách bao tải dứa đựng 03 con ngỗng ra ngoài đư ng đưa cho H còn D đi theo sau, H nhận lấy ngỗng và nói sẽ trả tiền sau nên Ph và D quay về nhà mổ thịt 02 con ngỗng, còn lại 01 con ngỗng Diên cho vào bao tải dứa cất giấu trong tủ gỗ của gia đình. Còn H và Ng điều khiển xe mô tô mang 03 con ngỗng đến chợ Trung tâm thị trấn Sông Mã bán cho bà Giáp Thị Ph SN 1977 trú tại tổ dân phố n, thị trấn S M được 620.000VNĐ. Đến khoảng 06 gi cùng ngày, D gọi điện cho H, H nói bán 03 con ngỗng được 300.000VNĐ, D bảo H chia đôi số tiền ngỗng bán được và nh H dùng số tiền đó đi mua hộ Hồng phiến, Heroine và H đồng ý. Sau đó H cùng Ng điều khiển xe mô tô đi lên bản Bướm Ỏ, Chiềng Khoong, Sông Mã hỏi mua được 04 viên Hồng Phiến và 01 gói Heroine của một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, khoảng 30 tuổi với giá 300.000VNĐ. Sau khi mua được ma túy, H và Ng thống nhất sẽ đưa cho D 02 viên Hồng phiến và 01 ít Heroine nên Ng chia đôi số ma túy vừa mua được vào 01 gói nilon màu hồng rồi cùng H đi về bản Pá B, Chiềng Kh để đưa ma túy cho D. Khi đi đến gần nhà D, H gọi điện cho D ra ngoài rồi Ng cầm gói nilon màu hồng chứa ma túy đưa cho D, D nhận lấy mang về nhà cùng Ph sử dụng bằng hình đốt, hít vào cơ thể. H và Ng đem số ma túy còn lại về nhà nghỉ Hoài An cùng nhau sử dụng hết. Đến sáng ngày 26/3/2019 chị Ch phát hiện bị mất trộm ngỗng nên đã đến trình báo Ban công an xã Chiềng Khoong, đồng th i gọi điện báo cho chị gái là Đoàn Thị L trú tại tổ dân phố n, thị trấn S M để nh chị L đi tìm giúp, chị L đến chợ trung tâm thị trấn phát hiện 03 con ngỗng tại quán bán hàng của chị Ph nên đã thông báo cho chị Ch biết và trình báo Ban công an thị trấn Sông Mã.

Ngày 11/4/2019 Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã phối hợp với Viện kiểm sát ND huyện tiến hành khám nghiệm hiện trư ng, xác định nơi xảy ra vụ trộm cắp thuộc vư n, nhà và ao của chị Đoàn Thị Ch ở bản Co T, Chiềng Kh, Sông Mã. Phía Bắc tiếp giáp với khu ruộng lúa của gia đình ông Lò Văn Ch ở cùng bản; Phía Tây tiếp giáp với đư ng dân sinh lên bản Co Sản, Chiềng Khoong, Sông Mã; Phía Đông tiếp giáp với khe suối cạn, tiếp đến là vư n nhãn của chị Đoàn Thị Ch; Phía Nam tiếp giáp với ruộng lúa của gia đình chị Đoàn Thị Ch. Khu vư n, nhà và ao nhà chị Ch được rào bằng lưới thép B40, khu đất trống sau nhà chị Ch và ao được rào thành một khu riêng là nơi chăn thả ngỗng. Qua khám nghiệm xác định các vị trí: Vị trí Lò Văn D dùng dao tháo mối nối rào thép đi vào trong khu vư n, vị trí cổng rào thép đi vào khu nuôi ngỗng và là nơi Phỏng và D bắt ngỗng cho vào bao tải, vị trí đàn ngỗng nằm ngủ trước khi D đuổi ra, vị trí Ph bị vấp ngã làm xổng mất 01 con ngỗng. Kết quả khám nghiệm hiện trư ng xác định các vị trí đều phù hợp với lời khai nhận của bị can, bị hại.

Tại kết luận định giá tài sản số 36 ngày 12/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Sông Mã kết luận:

+ 03 con ngỗng, màu lông xám nặng 12,5 kg, giá trị: 1.250.000 đồng.

+ 01 con ngỗng, màu lông trắng nặng khoảng 4,9 kg, giá trị: 490.000 đồng.

+ 03 con ngỗng, trong đó 01 con lông màu trắng và 02 con màu xám, mỗi con nặng khoảng 4 kg, giá trị: 1.200.000 đồng.

Tng giá trị: 2.940.000 đồng.

Cáo trạng số 133/CT-VKSSM ngày 15 tháng 11 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử các bị cáo Lành Văn Ph và Lò văn D về tội: Trộm cắp tài sản theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Lành Văn Ph, Lò Văn D phạm tội: Trộm cắp tài sản Áp dụng khoản 1 Điều 173 điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình Sự.

Xử phạt: Lò Văn D từ 07 đến 10 tháng tù.

Xử phạt: Lành Văn Ph từ 06 đến 09 tháng tù.

Đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;

Về xử lý vật chứng và án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo Lành Văn Ph, Lò Văn D không có ý kiến gì đối đáp với lời luận tội của Kiểm sát viên, chỉ xin được giảm nhẹ hình phạt.

Ý kiến của bị hại: Bà Đoàn Thị Ch đã nhận được tiền bồi thư ng của các bị cáo, số tiền là 2.000.000đ, nên không yêu cầu các bị cáo bồi thư ng gì thêm.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cở sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai bị cáo, ý kiến của bị hại, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về các chứng cứ xác định tội danh:

Ngày 25/3/2019 lợi dụng đêm tối và sự sơ hở trong quản lý tài sản của chủ sở hữu, Lành Văn Ph và Lò Văn D đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 07 con ngỗng của bà Đoàn Thị Ch, trú tại bản Co T, xã Chiềng Kh, huyện S M, với trị giá tài sản được xác định là 2.940.000đ (Hai triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng), mục đích đem bán lấy tiền chi tiêu cá nhân thì bị phát hiện.

Tại phiên toà các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Các bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và biên bản khám nghiệm hiện trư ng lập hồi 14 gi 40 phút ngày 11/4/2019; kết luận định giá tài sản số: 36/KL ngày 12/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Sông Mã.

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố các bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS là đảm bảo theo quy định của pháp luật.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 25/3/2019 các bị cáo Lành Văn Ph, Lò Văn D đã có hành vi trộm cắp tài sản là 07 con ngỗng của bà Đoàn Thị Ch, có tổng trị giá 2.940.800đ (Hai triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng).

Hành vi của các bị cáo đã phạm tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3] Đánh giá vai trò của các bị cáo trong vụ án: Bị cáo Lò Văn D giữ vai trò đầu vụ, chủ mưu khởi xướng và rủ Lành Văn Ph cùng đi trộm cắp tài sản; bị cáo Lành Văn Ph giữ vai trò đồng phạm, tham gia thực hiện tích cực trong việc trộm cắp tài sản. Do đó khi lượng hình cần có hình phạt nghiêm khắc hơn đối với bị cáo đầu vụ chủ mưu.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên toà và tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trư ng hợp ít nghiêm trọng, tích cực bồi thư ng cho người bị hại. Nên cần cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Để trừng trị đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội, cũng như công tác đấu tranh phòng chống các loại tội phạm, cần cách ly đối với bị cáo được xác định đầu vụ, chủ mưu ra khỏi đ i sống xã hội trong một th i gian nhất định mới đảm bảo cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Đi với bị cáo Lành Văn Ph thực hiện với vai trò đồng phạm, phạm tội thuộc trư ng hợp ít nghiêm trọng, tích cực bồi thư ng khắc phục hậu quả, có nơi cư trú rõ ràng. Viện kiểm sát đề nghị xử phạt tù giam đối với bị cáo Lành Văn Phỏng là không cần thiết.

Căn cứ Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù, có đủ điều kiện hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, cũng như tác dụng giáo dục, cải tạo riêng và phòng ngừa chung. Do đó chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đ i sống xã hội mà chỉ cần tuyên giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú của bị cáo quản lý, giám sát và giáo dục.

Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Hội đồng xét xử thấy các bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[4] Về các tình tiết, đối tượng liên quan:

Đi với Tòng Văn H đã mua 03 con ngỗng của Lành Văn Ph, Lò Văn D do trộm cắp mà có với giá trị tài sản được xác định là 1.250.000VNĐ, Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã đã ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự số 05 và khởi tố bị can số 221 ngày 04/11/2019 đối với Tòng Văn H về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, quy định tại khoản 1 Điều 323 BLHS. Hiện nay Cơ quan CSĐT Công an huyện đã tiến hành triệu tập và xác minh nhiều lần nhưng không xác định được bị can H đang ở đâu nên đã ra quyết định truy nã bị can số 11 và quyết định tách vụ án hình sự số 02 ngày 15/11/2019 đối với Tòng Văn H để tiếp tục điều tra xử lý là có căn cứ, cần được chấp nhận.

Đi với Tòng Văn Ng đã cùng Tòng Văn H mang 03 con ngỗng có giá trị 1.250.000VNĐ mang đi tiêu thụ ngày 26/3/2019. Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã đã tiến hành triệu, xác minh nhiều lần nhưng Ng hiện đang vắng mặt tại địa phương nên Cơ quan CSĐT đã tách hành vi của Ng để tiếp tục xác minh và xử lý cùng vụ án với Tòng Văn H, nên cần chấp nhận.

Đi với bà Giáp Thị Ph SN 1977, trú tại tổ dân phố n, thị trấn S M, S M đã mua 03 con ngỗng của Tòng Văn H, Tòng Văn Ng vào ngày 26/3/2019 với giá 620.000 đồng. Quá trình giao dịch mua bán bà Ph không biết là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan CSĐT không đặt vấn đề xử lý là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Về số tiền 620.000 đồng mà bà Ph đã bỏ ra để mua 03 con ngỗng là tài sản do phạm tội mà có do Tòng Văn H đem bán. Nếu bà Ph có yêu cầu được hoàn trả số tiền nêu trên thì sẽ được xem xét giải quyết cùng vụ án đối với hành vi của Tòng Văn H.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình các bị cáo đã thỏa thuận bồi thư ng cho cho bị hại bà Đoàn Thị Ch số tiền 2.000.000 đồng, bà Ch không có yêu cầu gì thêm, nên HĐXX không xem xét.

[6] Về vật chứng vụ án: Vật chứng đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Mã gồm: 01 con dao cán bằng gỗ có tổng chiều dài 33,5cm đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu MOBILE PHONE Mate S màu trắng đen, có số Imei 1: 358980030741906, Imei 2: 35898903741914, đã qua sử dụng; 01 bao tải dứa màu cam đã bị rách đáy đã qua sử dụng.

Đi với 01 con dao cán bằng gỗ có tổng chiều dài 33,5cm đã qua sử dụng;

01 bao tải dứa màu cam đã bị rách đáy đã qua sử dụng là những vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.

Đi với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu MOBILE PHONE Mate 9 màu trắng - đen, có số IMEI1: 3589890303741906, IMEI2: 358989030741914, đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Lò Văn D là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước.

[7] Về án phí: Các bị cáo Lành Văn Ph, Lò Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố các bị cáo: Lò Văn D, Lành Văn Ph phạm tội: Trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoảng 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Lò Văn D 07 (Bảy) tháng tù. Th i hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 03/6/2019.

Áp dụng khoảng 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Lành Văn Ph 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 14 tháng. Th i hạn thử thách tính từ ngày tuyên án ngày 29/11/2019.

Giao bị cáo Lành Văn Ph cho UBND xã Chiềng Khoong, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La giám sát giáo dục trong th i gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Chiềng Khoong trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Trư ng hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự. trong th i gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo chấp hành của bản án đã cho hưởng án treo.

Tiếp tục cấm bị cáo đi khỏi nơi cư trú cho đến khi nhận được quyết định thi hành bản án Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoảng 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu MOBILE PHONE Mate 9 màu trắng - đen, có số IMEI1: 358989030741906, IMEI2: 358989030741914, đã qua sử dụng.

- Tịch thu để tiêu hủy: 01 (một) con dao, phần lưỡi dao bằng kim loại, cán bằng gỗ, có tổng chiều dài 33,5cm đã qua sử dụng; 01 (một) bao tải dứa màu cam đã bị rách đáy, bao đã qua sử dụng.

Nhng vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng lập hồi 10 gi 00 phút ngày 12 tháng 9 năm 2019 giữa Công an huyện Sông Mã và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ Ban Thư ng Vụ Quốc hội. Các bị cáo Lành Văn Ph, Lò Văn D mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Các bị cáo, bi hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án.


14
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về