Bản án 142/2017/HS-ST ngày 25/12/2017 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN 142/2017/HS-ST NGÀY 25/12/2017 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 25 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 143/2017/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 143/2017/HSST- QĐ ngày 11 tháng 12 năm 2017, đối với bị cáo:

Tạ Hồng S, sinh năm 1983; nơi cư trú: Đội 1, xã D, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 6/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; bố đẻ Tạ Hồng L, mẹ đẻ Tạ Thị T, vợ là Đặng Thị T và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2012/HSST ngày 28/02/2012, Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xử phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 11/01/2014 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, ngày 23/7/2012 thi hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/8/2017 cho đến nay (có mặt).

Ngưi có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bùi Văn S, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn M, xã Y, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Tạ Hồng S bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 16 giờ 35 phút ngày 30/8/2017, tại khu vực vòng xuyến Tỉnh uỷ, thuộc khu 6, phường Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tổ công tác phòng chống ma túy - Công an thành phố Vĩnh Yên bắt quả tang Tạ Hồng S có hành vi bán trái phép chất ma túy cho đối tượng nghiện ma túy là Bùi Văn S.

Tang vật thu giữ gồm có: Thu tại tay trái của Bùi Văn S 01 gói giấy, bên trong chứa chất bột màu trắng, Bùi Văn S khai nhận đó là ma tuý heroine vừa mua của Tạ Hồng S với giá 300.000đ, vật chứng được niêm phong có ký hiệu A1; thu tại tay trái của Tạ Hồng S số tiền 100.000đ, Tạ Hồng S khai nhận đó là tiền lời do bán ma tuý cho Bùi Văn S mà có; thu giữ tại túi quần sau bên phải đang mặc của Tạ Hồng S số tiền 190.000đ; tạm giữ 01 xe máy nhãn hiệu Angel không biển kiểm soát của Tạ Hồng S.

Tại kết luận giám định số: 975/KLGĐ ngày 02/9/2017, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Chất bột màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy lẫn tạp chất loại heroine có khối lượng 0,0556 gam, không kể bao bì. Khối lượng heroine có trong 0,0556 gam mẫu là 0,0203 gam.

Về nguồn gốc số ma túy đã thu giữ, Tạ Hồng S khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 30/8/2017, tại khu vực vòng xuyến Tỉnh uỷ, thuộc khu 6, phường Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, sau khi đồng ý bán ma túy và nhận tiền của Bùi Văn S, Tạ Hồng S một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu Angel, không biển kiểm soát đến một phòng trọ đóng kín cửa trên đường Đầm Vạc, thuộc phường Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên, qua khe cửa phòng trọ, Tạ Hồng S hỏi và mua được của một người ở trong phòng trọ 01 gói ma tuý heroine với giá 200.000đ rồi đem về bán lại cho Bùi Văn S để kiếm lời 100.000đ thì bị Công an bắt quả tang như đã nêu trên.

Ti Cáo trạng số: 149/KSĐT-MT ngày 28/11/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên đã truy tố Tạ Hồng S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.

Ti phiên tòa, bị cáo Tạ Hồng S khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên.

Ngưi có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bùi Văn S vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra đã khai nhận: Khoảng 16 giờ ngày 30/8/2017, tại đài phun nước thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, Bùi Văn S có hỏi mua của Tạ Hồng S 01 gói ma túy heroine với giá 300.000đ. Thỏa thuận Bùi Văn S đưa trước cho Tạ Hồng S 200.000đ, còn 100.000đ khi nào có ma túy thì đưa. Tạ Hồng S cầm tiền đi đâu đó một lúc rồi quay lại đưa gói ma túy cho Bùi Văn S. Bùi Văn S cầm gói ma túy và đưa nốt số tiền 100.000đ cho Tạ Hồng S thì bị Công an bắt quả tang và niêm phong tang vật (bút lục 14, 15 và từ bút lục số 52 - 57).

Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên (bút lục 15 và từ bút lục 61 - 65).

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tạ Hồng S từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 41 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ toàn bộ bao gói ma túy còn lại sau giám định; tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 100.000đ đã thu giữ của bị cáo Tạ Hồng S; trả lại bị cáo Tạ Hồng S số tiền 190.000đ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo Tạ Hồng S không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Lời khai nhận tội nêu trên của bị cáo Tạ Hồng S tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 16 giờ 35 phút ngày 30/8/2017, tại khu vực vòng xuyến Tỉnh uỷ, thuộc khu 6, phường Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, bị cáo Tạ Hồng S có hành vi bán trái phép chất ma túy cho đối tượng nghiện ma túy là Bùi Văn S thì bị tổ công tác phòng chống ma túy - Công an thành phố Vĩnh Yên phát hiện và bắt quả tang. Tang vật thu giữ được giám định là ma túy lẫn tạp chất loại heroine có khối lượng 0,0556 gam, không kể bao bì. Khối lượng heroine có trong 0,0556 gam mẫu là 0,0203 gam.

Hành vi nêu trên của bị cáo Tạ Hồng S đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 02 đến 07 năm tù.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người; gây ra một lớp người nghiện trong xã hội làm tác hại cho chính bản thân người nghiện và gia đình họ cũng như cho cộng đồng nói chung. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo phạm tội theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự, có mức cao nhất của khung hình phạt đến 07 năm tù nên theo quy định tại khoản 3 Điều 8 của Bộ luật Hình sự thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm nghiêm trọng.

Tc khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân xấu, đã có 01 tiền án về hành vi cùng loại tội, mặc dù tiền án đó đã được xóa án tích nhưng cũng chứng tỏ bị cáo là đối tượng rất coi thường pháp luật, không biết ăn năn hối cải để hoàn lương. Trong vụ án này, mặc dù số lượng ma túy mua bán trái phép là không lớn nhưng hành vi được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ là thu lời bất chính, hiện tại trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên các tội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Do đó, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

Khi quyết định hình phạt có xem xét đến các tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” để giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự.

Đi với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bùi Văn S là đối tượng nghiện ma túy, mục đích mua túy để sử dụng; hành vi tàng trữ dưới 0,1 gam ma túy heroine chưa đủ định lượng cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền phạt 1.500.000đ là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối với người bán ma túy cho Tạ Hồng S qua khe cửa của phòng trọ đóng kín trên đường Đầm Vạc, thuộc phường Đống Đa, thành phố Vĩnh Yên. Tạ Hồng S khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý là đúng pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 194 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác định bị cáo không có tài sản và thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Đối với bao gói ma túy còn lại sau giám định không có giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu huỷ. Đối với số tiền 100.000đ đã thu giữ của bị cáo, đây là tiền do phạm tội mà có cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Đối với số tiền 190.000đ thu giữ của bị cáo Tạ Hồng S, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định đó là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 41 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Angel, không biển kiểm soát, có số máy: VMEVA2016514, số khung: VMEKCG013ME016514 đã cũ, Tạ Hồng S khai nhận: Khoảng 18 giờ ngày 29/8/2017, tại khu vực thôn Đông, thị trấn Minh Tân, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, Tạ Hồng S mượn chiếc xe máy nêu trên của một người nam giới tên H, quê ở Hải Phòng (là bạn xã hội mới quen biết). Tạ Hồng S không biết họ, tên đệm và địa chỉ nơi cư trú của H. Tiến hành tra cứu hồ sơ được biết: Chiếc xe máy nêu trên có biển kiểm soát 19H8-9692, giấy đăng ký xe đứng tên chị Phùng Thị T, sinh năm 1983 ở đội 5, tổ dân phố Hoà Phong, phường Minh Nông, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Quá trình điều tra, chị T khai vào khoảng năm 2006 đã bán chiếc xe máy nêu trên cho một người nam giới tên L (không biết họ, tên đệm và địa chỉ) với giá 8.000.000đ. Hiện tại Cơ quan điều tra chưa xác định được người có tên L và H để xác định rõ chủ sở hữu, Cơ quan điều tra tách ra để tiếp tục xác minh làm rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý trong vụ án này.

Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Tạ Hồng S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tạ Hồng S 03 (ba) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 30/8/2017).

Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 41 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) đã thu giữ của bị cáo Tạ Hồng S; tịch thu tiêu huỷ toàn bộ bao gói còn lại sau giám định; trả lại bị cáo Tạ Hồng S số tiền 190.000đ (Một trăm chín mươi nghìn đồng) nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án (Đặc điểm tang vật như Biên bản bàn giao vật chứng ngày 04/12/2017).

Áp dụng Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Tạ Hồng S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.


58
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 142/2017/HS-ST ngày 25/12/2017 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:142/2017/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Vĩnh Yên - Vĩnh Phúc
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 25/12/2017
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về