Bản án 14/2020/HS-ST ngày 28/05/2020 về tội giết người

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 14/2020/HS-ST NGÀY 28/05/2020 VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI

Trong ngày 28 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2020/HSST ngày 13 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh ngày 24 tháng 4 năm 2001 tại thành phố C, tỉnh An Giang. Nơi cư trú: Tổ 10, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; Giới tính: Nam; Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không, Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1973 và bà Thái Thị N, sinh năm 1976. Anh, chị, em: Có 03 người, bị cáo là người thứ ba. Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/01/2020 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Ông Lôi Văn Đ - Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư Hùng Đức, Đoàn Luật sư tỉnh An Giang. (Có mặt).

Bị hại: Nguyễn Minh H1, sinh năm 1991. (đã chết)

Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Bà Lưu Thị Thúy H, sinh năm 1982. Địa chỉ: Tổ 13, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang. (Có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1984. Địa chỉ: Áp Mỹ Á, xã Núi Voi, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. (Có mặt).

2. Ông Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1973. Địa chỉ: Tổ 10, khóm Vĩnh Tây 2, phường Núi Sam, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 20/01/2020, Nguyễn Minh H1 đến nhà Nguyễn Thanh S (cặp vách nhà ông Võ Quang N) tại khu vực tổ 13, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang để đòi tiền 100.000 đồng do S nợ trước đó, thì xảy ra cự cãi. Lúc này, chị Nguyễn Thị Phương T (chị ruột của S) khuyên can, kéo S vào trong nhà đóng cửa lại, còn H1 ngồi trên ghế nhựa tại bàn đá trước nhà ông N chửi S, có Nguyễn Văn H đến ngồi võng đối diện, cách H1 khoảng 01 mét, kêu H1 đừng chửi nữa, H1 liền chửi tục với H. Do tức giận bị H1 chửi, H liền lấy đoạn gỗ dài 40,2cm (dùng làm cán búa bổ củi) gần chỗ đầu võng, cầm trên tay phải, đứng đối diện H1 (ngồi trên ghế nhựa) đánh mạnh từ trên xuống vào vùng đỉnh đầu của H1 01 cái. Khi đó, bà Phạm Thị H2 đang ngồi uống nước gần đó nhìn thấy la lên H tại sao đánh H1, nhưng H vẫn tiếp tục cầm khúc gỗ đánh vào đầu của H1 thêm 01 cái làm H1 bất tỉnh, ngã gục xuống bàn đá. Cùng lúc này mọi người tri hô, Ngô Văn C, Ngô Văn Minh D chạy đến can ngăn và đưa H1 đến Bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh An Giang (tại thành phố Châu Đốc) cấp cứu nhưng H1 đã hôn mê, đến ngày 24/01/2020 H1 chết. Riêng, H sau khi đánh H1 ném lại đoạn gỗ tại hiện trường, bỏ đi.

Ngày 21/01/2020, H đến Công an phường Châu Phú B đầu thú. Ngày 30/01/2020, H bị khởi tố điều tra.

Vật chứng thu giữ: 01 đôi dép quai kẹp màu trắng, 01 đoạn gỗ (dạng cán búa bổ củi) dài 40,2cm, rộng nhất 05cm, phàn đầu dày 02cm, phần cán dày 4,5cm vè vết màu nâu thu giữ tại hiện trường. Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y tâm về tử thi số 16/20TT ngày 24/01/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh An Giang, kết luận nguyên nhân chết của Nguyễn Minh H1, sinh năm 1991:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Vết rách da vùng đỉnh;

- Vở lún sọ vùng đỉnh (T);

- Máu tụ ngoài màng cứng, dập phù não, xuất huyết dưới màng nhện.

2. Nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não, máu tụ ngoài màng cứng, dập phù não.

Căn cứ các Kết luận giám định số 01/KLGT-PC09 (SH) ngày 06/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang, kết luận:

- Vết máu nâu thu tại hiện trường vị trí số 1 là máu người, thuộc nhóm máu O.

- Máu của nạn nhân Nguyễn Minh H1, sinh năm: 1991 thuộc nhóm máu O.

Tại Cáo trạng số: 11/CT-VKSAG-P2 ngày 11/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Do tức giận việc H1 vô cớ chửi tục bị cáo, bị cáo đã dùng khúc gỗ dài 40,2cm đánh mạnh vào vùng đỉnh đầu của H1 02 cái làm cho H1 tử vong. Hiện tại, bị cáo cùng gia đình đã bồi thường cho đại diện hợp pháp bị hại số tiền 97.100.000 đồng. Bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người đại diện hợp pháp của bị hại bà Lưu Thị Thuý H trình bày: Bà sống chung với ông H1 không đăng ký kết hôn từ năm 2010, có 01 con chung tên Lưu Thành Đ. Bà đã nhận số tiền 97.100.000 đồng (gồm 57.100.000 đồng chi phí điều trị và mai táng; 5.000.000 đồng tiền tổn thất tinh thần; cấp dưỡng nuôi cháu Lưu Thành Đ 35.000.000 đồng) do cha bị cáo là ông Nguyễn Văn Ph bồi thường. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không có yêu cầu gì thêm.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim T trình bày: Bà là chị bà con chú bác với H1; bà đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Minh H3 (sinh ngày 29/8/2009) là con chung của H1 và Loan từ khi cháu H3 sinh ra cho đến nay. Hiện nay, mẹ của cháu H3 đã chết, cha của cháu H3 là H1 bị H đánh tử vong. Nay bà yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn H bồi thường tiền cấp dưỡng cho cháu H3 đến khi cháu đủ 18 tuổi với số tiền 42.000.0000 đồng (Bốn mươi hai triệu đồng) tạo điều kiện để bà tiếp tục nuôi dưỡng cháu H3 cho đến khi trưởng thành, ngoài ra bà không yêu cầu gì khác.

Ông Nguyễn Văn Ph (cha ruột của H), trình này: Vụ việc đánh nhau ông không biết. Sau khi vụ án xảy ra ông đã đến gia đình bị hại khắc phục hậu quả, bồi thường chi phí điều trị và tiền mai táng H1 với tổng số tiền 97.100.000 đồng do bà H đại diện nhận. Ông không yêu cầu bị cáo H phải trả lại cho ông.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu lời luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo; hậu quả xảy ra, cũng như tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đề nghị tuyên phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H mức án từ 16 năm đến 18 năm tù về tội “Giết người”.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại đã thoả thuận bồi thường xong nên không đặt ra xem xét. Tại phiên toà, bà Nguyễn Thị Kim T yêu cầu bị cáo H tiếp tục cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Minh H3 (con riêng của Nguyễn Minh H1 và Nguyễn Thị L) số tiền 42.000.000 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật, được bị cáo đồng ý.

Căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Minh H3 đến khi trưởng thành với số tiền 42.000.000 đồng.

Về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Luật sư Lôi Văn Đ bào chữa cho bị cáo không tranh luận với Kiểm sát viên về điểm, khoản và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử có quan tâm xem xét đến nhân thân bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: Sau khi phạm tội đã ra công an đầu thú; chưa tiền án tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường cho bị hại; người đại diện hợp pháp bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và tại phiên toà, bị cáo cũng đồng ý cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Minh H3 số tiền 42.000.000 đồng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, có thể xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về địa phương giúp ích cho gia đình và xã hội.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang quy kết và nhận thức được việc làm sai trái của bản thân, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh An Giang, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật.

[2] Trong vụ án có một số người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử vụ án, mặt khác, những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

- Về nội dung vụ án:

[3] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn H tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra; phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường và bản ảnh hiện trường ngày 24/01/2020; Biên bản khám nghiệm tử thi ngày 24/01/2020, Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 16/20/TT ngày 24/01/2020 của Trung tâm pháp y Sở y tế An Giang. Ngoài ra còn phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đầy đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 21 giờ 30 phút 20/01/2020 tại quán cà phê của ông Võ Văn N, bị cáo Nguyễn Văn H thấy Nguyễn Minh H1 và Nguyễn Văn S mâu thuẫn chữi nhau nên khuyên can. H1 quay lại chửi thề với bị cáo, tức giận việc H1 vô cớ xúc phạm nên bị cáo đã đứng dậy lấy khúc gỗ dùng làm cán búa chẻ củi (Rìu) cầm tay phải, đứng đối diện với H1 đánh mạnh từ trên xuống vào vùng đỉnh đầu của H1 02 cái dẫn đến H1 tử vong.

Căn cứ vào quy định của pháp luật, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã phạm tội “Giết người”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật (đã viện dẫn) là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Tính mạng, sức khỏe của con người là vốn quý của xã hội, được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi trái pháp luật nhằm xâm hại đến tính mạng, sức khỏe người được xem là hành vi nguy hiểm cho xã hội, sẽ bị xử lý kịp thời, nghiêm minh bằng pháp luật.

Bị cáo là một người trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng phân biệt việc nào đúng, việc nào sai, việc nào là vi phạm pháp luật. Bị cáo và bị hại có mối quan hệ bạn bè, hàng xóm với nhau. Khi can ngăn việc H1 chửi S thì bị cáo bị H1 chửi thề lại nên bị cáo tức giận không kiềm chế được bản thân nên bị cáo sẳn sàng đáp trả bằng hung khí, tấn công quyết liệt vào đầu nạn nhân rồi bỏ đi. Lẽ ra, bị cáo phải bình tĩnh xử lý, tìm biện pháp phù hợp nhưng với bản tính hung hăng, côn đồ đã gây ra cái chết cho anh H1. Bị cáo nhận thức rõ việc dùng khúc gỗ là vật cứng rắn tác động vào vùng xung yếu của cơ thể của người bị hại có thể gây tử vong nhưng bị cáo bất chấp, không chỉ đánh vào đầu bị hại 01 lần mà đánh tới 02 lần nhằm tước đi tính mạng của người bị hại. Trong vụ án này, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, thấy trước hậu quả xảy ra nhưng vẫn để mặc cho hậu quả xảy ra.

Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, mang tính nguy hiểm cao cho xã hội, không những đã xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của người bị hại, gây ra đau thương mất mát cho gia đình nạn nhân không gì có thể bù đắp được mà còn gây hoang mang cho quần chúng nhân dân nơi xảy ra vụ án. Hành vi của bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, xem nhẹ tính mạng, sức khỏe của người khác nên cần phải có một mức hình phạt thật nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mới có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và trước phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo; tõ rõ ăn năn hối cải; nhân thân tốt chưa tiền án tiền sự, bị cáo có tác động gia đình thỏa thuận bồi thường toàn bộ chi cho đại diện hợp pháp bị hại với số tiền 97.100.000 đồng và được bà Lưu Thị Thúy H xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đến cơ quan công an đầu thú; bị cáo xuất thân từ thành phần lao động nghèo, học thức thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Tại tòa, bị cáo đồng ý cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Minh H3 thể hiện sự ăn năn hối cải. Do vậy, Hội đồng xét xử có cân nhắc, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[6] Các biện pháp tư pháp khác: Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Nguyễn Văn H đã gây ra cái chết cho anh Nguyễn Minh H1 thì bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường tất cả các tổn thất về vật chất và tinh thần cho đại diện hợp pháp của anh H1. Sau khi vụ án xảy ra bị cáo cùng gia đình đã bồi thường số tiền 97.100.000 đồng (gồm 57.100.000 đồng chi phí điều trị và mai táng; 5.000.000 đồng tiền tổn thất tinh thần; cấp dưỡng nuôi cháu Lưu Thành Đ 35.000.000 đồng) cho chị H và chị không có yêu cầu gì thêm tại tòa nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Đối với ông Nguyễn Văn Ph (cha ruột của bị cáo H) không yêu cầu bị cáo phải trả lại ông số tiền 97.100.000 đồng nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Đối với bà Nguyễn Thị Kim T yêu cầu cấp dưỡng cháu Nguyễn Minh H3 (con của bị hại Nguyễn Minh H1). Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình điều tra xác định hàng thừa kế thứ nhất của anh H1 gồm cha là Nguyễn Văn Dương (đã chết), mẹ Đặng Thị Kha (đã chết); vợ là chị Lưu Thị Thúy H (sống chung năm 2010 không đăng ký kết hôn) và cháu Lưu Thành Đ, sinh ngày 26/10/2013. Ngoài ra, trước khi anh H1 sống chung với H thì có vợ trước là Nguyễn Thị L (đã chết) và có 01 con chung tên Nguyễn Minh H3, sinh ngày 29/8/2009 hiện do chị Nguyễn Thị Kim T chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét về quan hệ huyết thống thì cháu H3 là con ruột của H1 và Loan, tuy cháu H3 không sống chung với anh H1 nhưng anh H1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu H3. Hiện nay, H1 và Loan đã chết trong khi tính đến thời điểm hiện tại cháu H3 chỉ mới hơn 10 tuổi còn ở lứa tuổi trẻ em cần được cấp dưỡng để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của cuộc sống theo quy định của pháp luật. Căn cứ Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên nhưng do anh H1 là bị hại trong vụ án đã chết nên bị cáo Nguyễn Văn H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng. Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Kim T yêu cầu bị cáo H cấp dưỡng cho cháu H3 đến khi cháu H3 đủ 18 tuổi với số tiền 42.000.000 đồng và được bị cáo đồng ý. Xét đây là sự tự nguyện giữa bị cáo và chị Nguyễn Thị Kim T không trái với quy định và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với những vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo và không còn giá trị sử dụng thì tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Do hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, còn phải bồi thường cho đại diện hợp pháp người bị hại. Hội đồng xét xử quyết định miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 259; Điều 260; Điều 268; Điều 269 và Điều 299 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Giết người”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 21/01/2020.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46, 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 591 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Văn H: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Minh H3, sinh ngày 29/8/2009 đến khi trưởng thành với số tiền 42.000.000 đồng (Bốn mươi hai triệu đồng), do bà Nguyễn Thị Kim T (người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Minh H3) đại diện nhận.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

Tuyên bố tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng được thu giữ trong quá trình điều tra gồm:

- 01 đôi dép quai kẹp màu trắng;

- 01 túi giấy chứa tăm bông dính vết máu;

- 01 đoạn gỗ dạng cán rìu (cán búa);

- 01 túi giấy chứa gạc y tế mẫu máu của tử thi Nguyễn Minh H1.

(Tất cả vật chứng trên theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16/3/2020 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn H.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 333, Điều 337 Bộ luật Tố tụng sự năm 2015:

Bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, sự tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.


152
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 14/2020/HS-ST ngày 28/05/2020 về tội giết người

Số hiệu:14/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân An Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:28/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về