Bản án 14/2020/HNGĐ-ST ngày 18/09/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 14/2020/HNGĐ-ST NGÀY 18/09/2020 VỀ LY HÔN

Trong ngày 18 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 50/2020/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2020 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 05 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Lê Văn B, sinh năm: 1958. Cư trú tại: ấp Tr, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Đào Thu V, sinh năm: 1959. Cư trú tại: ấp Tr, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 07 tháng 5 năm 2020, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Lê Văn B trình bày:

Về hôn nhân: Ông Lê Văn B và bà Đào Thu V có tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương vào năm 1977, nhưng đến ngày 05/8/2004 mới đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật và được Ủy ban nhân dân xã An Thạnh Đông, huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn. Sau thời gian chung sống hạnh phúc đến tháng 11/2008 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng ý kiến trong cuộc sống, nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, ông B và bà V sống ly thân từ tháng 11/2008 cho đến nay. Nay ông B xét thấy tình cảm vợ chồng giữa ông và bà V không còn, nên ông B yêu cầu ly hôn với bà V. Về con chung: Trong thời gian chung sống ông B và bà V có 04 người con chung tên là Lê Văn H, sinh năm: 1978, Lê Văn H, sinh năm: 1980; Lê Văn Ph, sinh năm: 1982 và Lê Thị Ngọc D, sinh năm: 1987. Hiện nay, H, H, Ph và D đều đã thành niên, không mắc bệnh tật gì, tự lao động nuôi sống bản thân được, nên ông B không có yêu cầu gì. Về tài sản chung và nợ chung: Trong thời gian chung sống ông B và bà V có tài sản chung và nợ chung, nhưng ông B và bà V đã tự thỏa thuận xong, nên ông B không có yêu cầu gì.

Bị đơn là Đào Thu V đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt, nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải, bà V không gửi văn bản ghi ý kiến của mình cũng như không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà V.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa. Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Đào Thu V là bị đơn trong vụ án, bà V đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà V.

Đi với nguyên đơn Lê Văn B, đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông B.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa ông Lê Văn B và bà Đào Thu V là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống hạnh phúc, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong cuộc sống, tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ tháng 11/2008, hai bên đã sống ly thân. Từ khi ly thân cho đến nay ông bà không có gặp nhau để bàn bạc về việc hôn nhân của ông bà nhằm tạo điều kiện chung sống lại với nhau. Tại đơn khởi kiện ngày 07 tháng 5 năm 2020, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông B yêu cầu được ly hôn với bà V là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên cần chấp nhận yêu cầu của ông B. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho ông B được ly hôn với bà V.

[2.2] Về con chung: Trong thời gian chung sống ông B và bà V có 04 người con chung tên là Lê Văn H, sinh năm: 1978, Lê Văn H, sinh năm: 1980; Lê Văn Ph, sinh năm: 1982 và Lê Thị Ngọc D, sinh năm: 1987. Hiện nay, H, H, Ph và D đều đã thành niên, không mắc bệnh tật gì, tự lao động nuôi sống bản thân được. Tại đơn khởi kiện ngày 07 tháng 5 năm 2020, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông B không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Ông B không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[2.4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông B phải chịu nghĩa vụ án phí đối với vụ án hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng; Bà V không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra, căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 17 Luật phí và Lệ phí; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn B.

1. Về hôn nhân: Xử cho ông Lê Văn B được ly hôn với bà Đào Thu V.

2. Về con chung: Con chung của ông B và bà V là là Lê Văn H, sinh năm: 1978, Lê Văn H, sinh năm: 1980; Lê Văn Ph, sinh năm: 1982 và Lê Thị Ngọc D, sinh năm: 1987. Hiện nay, H, H, Ph và D đều đã thành niên, không mắc bệnh tật gì, tự lao động nuôi sống bản thân được, ông B không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Ông B không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Văn B phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình, nhưng ông B được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009793 ngày 07 tháng 5 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, ông B đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm; Bà Đào Thu V không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo: Ông Lê Văn B và bà Đào Thu V có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.


1
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 14/2020/HNGĐ-ST ngày 18/09/2020 về ly hôn

Số hiệu:14/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cù Lao Dung - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 18/09/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về