Bản án 14/2019/HS-ST ngày 29/01/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 14/2019/HS-ST NGÀY 29/01/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 29 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2019/TLST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2019/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

Danh Vũ B, giới tính: nam; sinh ngày 23 tháng 01 năm 1993 tại Kiên Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp Năm Ch, xã Nam Th, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở: không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 7/12; dân tộc: Khơme; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh D (sinh năm 1968) và bà Thị P (chết); tiền án, tiền sự: không; nhân thân: không; bị giam giữ từ ngày 27/9/2018 và có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Minh T, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

- Bị hại: Anh Võ Văn C, sinh năm 1993 (vắng mặt)

Địa chỉ: phường Tăng Nhơn Phú A, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Chị Huỳnh Thị Th, sinh năm 1984 (vắng mặt)

Địa chỉ: phường Tăng Nhơn Phú A, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Ông Nguyễn Kiết T, sinh năm 1946 (vắng mặt)

Địa chỉ: Phường 8, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

3/ Anh Đoàn Lê T, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Địa chỉ: xã Hòa Lợi, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 22/9/2018, Danh Vũ B đi ngang nhà số 15E Đường 14, Khu phố 4, phường Tăng Nhơn Phú A, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện xe gắn máy hiệu WANGGUAN biển số 53R5-8077 của anh Võ Văn C dựng trước cửa nhà, có cắm sẵn chìa khóa, không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp. B lén lút dẫn bộ xe đi được khoảng ba mét thì khởi động máy, điều khiển xe tẩu thoát rồi đưa xe về chòi lá bỏ hoang mà B đang sống ở Khu công nghệ cao thuộc Tổ 12, Khu phố 4, phường Tăng Nhơn Phú A, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh để cất giấu và làm phương tiện đi lại. Sáng ngày 23/9/2018, B gắn vào xe mới chiếm đoạt được biển số 61T7-4223 mà B đã nhặt được khi đi ngang một nhà dân trên Đường 16, phường Tăng Nhơn Phú A, rồi mang biển số 53R5-8077 vứt xuống cầu Bến Nọc trên đường Lê Văn Việt, Quận 9. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 27/9/2018, anh C đi ngang chòi lá phát hiện xe gắn máy đang dựng trước chòi lá có kiểu dáng giống xe bị mất nhưng mang biển số 61T7-4223 nên vào kiểm tra số khung, số máy thì thấy khớp với xe đã mất. Lúc này anh C thấy B từ trong chòi lá đi ra nên truy hỏi xem xe của ai nhưng B trả lời không biết, rồi khóa cổ xe và ném chìa khóa xe xuống con mương gần chòi lá định bỏ trốn thì bị anh C truy đuổi bắt giữ giao cho Công an phường Tăng Nhơn Phú A, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xử lý theo quy định.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 9, Danh Vũ B đã thừa nhận hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng vụ án:

-  01 xe gắn máy hiệu WANGGUAN biển số 53R5-8077. Qua xác minh do ông Nguyễn Kiết T đứng tên chủ sở hữu, sau đó ông T cho chị Huỳnh Thị Th và chồng là Võ Thanh S sử dụng là phương tiện chở hàng. Ngày 22/9/2018, chị Th cho anh C mượn xe đi công việc thì bị Danh Vũ B lấy trộm.

Kết luận định giá tài sản số 150-2018/KL-ĐGTS ngày 14/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân Quận 9, kết luận xe gắn máy nêu trên có giá trị còn lại là 3.500.000 đồng. Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu hồi xe trả lại cho bị hại.

-  01 biển số xe 53R5-8077 và chìa khóa xe. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 9 không thu hồi được.

-  01 biển số xe 61T7-4223. Qua xác minh do Đoàn Lê Th là chủ sở hữu xe có biển số nêu trên, năm 2006 anh Th đã bán xe cho một người đàn ông không rõ lai lịch ở khu vực ấp Bến Đồn, xã Hòa Lợi, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình

Dương, khi bán không làm giấy tờ và thủ tục sang tên. Căn cứ phiếu tra cứu xe máy vật chứng số 04/XMTV-PC01 ngày 10/11/2018 của Phòng PC01 Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng.

Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu gì khác.

Tại Cáo trạng số: 14/CT-VKS ngày 09 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Danh Vũ B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Danh Vũ B đã thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với Danh Vũ B về tội trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại nên gây ra thiệt hại không lớn. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Danh Vũ B từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.

Về dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

-  Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu hồi xe gắn máy hiệu WANGGUAN hiện bị mất biển số 53R5-8077 trả lại cho bị hại là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

-  Đối với 01 biển số xe 61T7-4223 là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu, tiêu hủy.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Danh Vũ B trình bày: Bị cáo Danh Vũ B đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, do đó thống nhất với tội danh và điều luật mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 9 đã truy tố và luận tội đối với bị cáo B. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ, bị cáo B phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản cũng đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Hơn nữa, bị cáo còn là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức còn hạn chế. Đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo nhận thấy được hành vi của mình là sai trái xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 9, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 9, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Danh Vũ B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét, lời khai của bị cáo là khách quan, phù hợp với Biên bản thực nghiệm điều tra; Biên bản ghi lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 9; Bản tự khai của bị cáo; Lời khai của người bị hại, người liên quan; Tang vật thu giữ; Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân Quận 9 và các tang vật, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở xác định, vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 22/9/2018 tại trước nhà số 15E Đường 14, Khu phố 4, phường Tăng Nhơn Phú A, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh, Danh Vũ B đã có hành vi lén lút, bí mật chiếm đoạt một xe gắn máy hiệu WANGGUAN biển số 53R5-8077 có giá trị 3.500.000 đồng của anh Võ Văn C. Hành vi của Danh Vũ B đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Lời khai của bị cáo đã thống nhất với tội danh và điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội đối với bị cáo. Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 9 đối với bị cáo Danh Vũ B là đúng người, đúng tội, phù hợp với quy định của pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của mình đã gây ra. Điều đó chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật nên cần phải có hình phạt nghiêm minh tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi xã hội trong một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xét trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại, hơn nữa bị cáo còn là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức còn hạn chế. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu khác nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu hồi xe gắn máy hiệu WANGGUAN hiện bị mất biển số 53R5-8077 trả lại cho bị hại là có căn cứ chấp nhận.

- Đối với 01 biển số xe 61T7-4223 là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

[7] Về án phí: Bị cáo Danh Vũ B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Danh Vũ B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt Danh Vũ B 06 (sáu) tù; Thời hạn tù tính từ ngày 27/9/2018.

3. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu, tiêu hủy: 01 biển số xe 61T7-4223.

(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 126 ngày 20/12/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 9).

4. Áp  dụng  Điều  135,  136  Bộ  luật  Tố  tụng  hình  sự;  Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Danh Vũ B phải nộp 200.000 (hai trăm) đồng án phí hình sự sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.


61
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 14/2019/HS-ST ngày 29/01/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:14/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 9 (cũ) - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:29/01/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về