Bản án 14/2019/HS-ST ngày 12/03/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 14/2019/HS-ST NGÀY 12/03/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 12 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2019/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Thanh T Sinh ngày 01 tháng 5 năm 1969 tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Tổ 22, phường Tr, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Đại lý bán vé xổ số; Trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Ph và bà Mai Thị A (Đã chết); bị cáo có chồng (Đã chết) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 09/2019/HSST-LCĐKNCT ngày 28 tháng 01 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Văn N – Sinh năm 1998.

Đa chỉ: Tổ 9, phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; Vắng mặt.

- Anh Bùi Khắc H – Sinh năm 1998

Địa chỉ: Thôn Cầu C, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Trần Đăng Đ - sinh năm: 1960; (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Thanh T là đại lý bán vé xổ số cho công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên xổ số kiến thiết Miền Bắc, tỉnh Ninh Bình, chi nhánh tại thành phố T. Khoảng 16 giờ ngày 26/12/2018, T kê bàn trước cửa nhà để bán vé sổ xố Nhà nước và bán số lô, số đề trái phép cho người chơi qua đường để thu lợi bất chính với tỉ lệ thắng thua là số lô bán với giá 23.000 đồng 01 điểm, nếu trúng T phải trả 80.000 đồng; số đề 1.000 đồng, nếu trúng T phải trả 70.000 đồng.

Khong 17 giờ 50 phút cùng ngày có Nguyễn Văn N cùng Bùi Khắc H, đến gặp Nguyễn Thị Thanh T hỏi mua số lô, số đề. T đồng ý bán và dùng chiếc bút bi nhãn hiệu Matixs, màu đen –xám, mực đen ghi các số lô, số đề bán cho N và H vào 01 tờ giấy kẻ ngang, kích thước (29,5x20)cm, một mặt giấy đã ghi các số lô, số đề bán cho người chơi trong ngày 26/12/2018 để theo dõi trả thưởng (gọi là tờ thống kê số lô, số đề). Cụ thể, T bán cho N số lô 68, 86 mỗi số 50 điểm với tổng tiền 2.300.000 đồng; bán cho H số lô 25 – 50 điểm, 19 – 80 điểm và số đề 25 - 10.000 đồng với tổng tiền 3.000.000 đồng. Sau đó, T nhận tổng số tiền bán số lô, đề của N và H là 5.300.000 đồng và ghi lại các số lô, số đề vừa bán ra 02 mảnh giấy, đều có kích thước (10,2x7)cm (gọi là cáp lô, đề) rồi đưa cho N và H. Đúng lúc này, tổ công tác Công an thành phố T phát hiện, bắt quả tang, thu giữ của Nguyễn Thị Thanh T tổng số tiền 6.730.000 đồng, trong đó có số tiền 5.300.000 đồng vừa bán số lô, số đề cho N và H, 01 tờ thống kê số lô, số đề ngày 26/12/2018 với tổng số tiền T đã bán số lô, số đề cho người chơi trong đó có N và H là 6.829.000 đồng và 01 bút bi; thu giữ của Nguyễn Văn N và Bùi Khắc H mỗi người 01 tờ cáp lô, đề.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thị Thanh T khai nhận phù hợp với bảng kê lô, đề thu giữ của T xác định ngày 26/12/2018, ngoài việc bán số lô, số đề cho N và H thu được số tiền 5.300.000 đồng; T còn bán cho người chơi qua đường không biết tên, tuổi địa chỉ thu được số tiền 1.529.000 đồng; sau đó T đã sử dụng 99.000 đồng trong số tiền này để trả lại cho khách mua hàng tạp hóa của T. Đến ngày 10/01/2019 và 14/01/2019, T tự nguyện giao nộp là số tiền 99.000 đồng thu được từ bán số lô, đề ngày 26/12/2018 đã sử dụng.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thị Thanh T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Cáo trạng số 16/CT-VKS-TPTĐ ngày 28 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thanh T ra trước Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp để xét xử về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1 điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tại phiên tòa sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, xem xét hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i và s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự;

- Phạt tiền Nguyễn Thị Thanh T từ 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) đến 25.000.000 đồng ( Hai mươi lăm triệu đồng)

- Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:

Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 6.829.000 đồng (Trong đó 5.300.000đ là tiền mà bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sử dụng vào việc đánh bạc; 1.529.000đ là tiền mà Nguyễn Thị Thanh T đã bán số lô, số đề cho khách qua đường.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc bút bi màu đen - xám, mực màu đen nhãn hiệu matixs đã thu giữ của Nguyễn Thị Thanh T sử dụng vào việc ghi số lô, số đề trong ngày 26/12/2018.

Trong quá trình điều tra, ông Trần Đăng Đ trình bày: Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 26/12/2018 trên đường đi làm về ông có vào cửa hàng tạp hóa của chị T để hỏi mua hàng. Khi đến hỏi mua hàng thì chị T đang bán các số lô, số đề cho hai người thanh niên, ông đứng quan sát để đợi chị T bán hàng thì thấy chị T bán cho người thanh niên tên N các số lô 68, 86 mỗi số 50 điểm, tổng là 100 điểm, chị T cũng bán số lô cho người thanh niên tên H số lô 25 là 50 điểm, số lô 19 là 80 điểm và số đề 25 là 10.000 đồng. Các số lô số đề mà chị T vừa bán cho H và N ông thấy chị T ghi vào một tờ giấy để theo dõi, sau đó ông thấy chị T tính toán số tiền mà N và H phải trả cụ thể N là 2.300.000đ và H là 3.000.000 đồng đồng thời chị T ghi các số lô, số đề vừa bán vào 02 mảnh giấy rồi đưa cho N và H. Khi N và H vừa nhận hai mảnh giấy ghi các số lô, số đề mà chị T vừa đưa thì Công an thành phố T bắt quả tang. Tại đây các anh Công an thu giữ tổng số tiền 6.730.000 đồng, 01 tờ giấy ghi thống kê các số lô, số đề, 01 chiếc bút bi màu đen - xám, mực màu đen sau đó Cơ quan công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thị Thanh T.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi bị truy tố như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Bùi Khắc H và anh Nguyễn Văn N, phù hợp với tang vật đã thu giữ. Mặt khác được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận vào ngày 26/12/2018 Nguyễn Thị Thanh T đã có hành vi bán các số lô, số đề với tổng số tiền là 5.300.000 đồng đã phạm vào tội đánh bạc. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự “ Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Từ căn cứ trên thấy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thanh T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng pháp luật Hành vi phạm tội của bị cáo xảy ra tại nơi tập trung đông dân cư, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn phường Tr nói riêng và trên địa bàn thành phố T nói chung. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật và có mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục cải tạo bị cáo đồng thời góp phần phòng ngừa chung.

[3] Đối với bị cáo Nguyễn Thị Thanh T là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc nhằm mục đích tạo ra thu nhập bất chính bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc đủ để giáo dục cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất hành vi phạm tội, số tiền mà bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ để giáo dục cải tạo bị cáo thành công dân có ích .

[6] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng”. Do áp dụng hình phạt chính đối với bị cáo là phạt tiền nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Thị Thanh T.

[7] Trong vụ án này, đối với Bùi Khắc H và Nguyễn Văn N, chưa có tiền án, tiền sự về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Ngày 26/12/2018 đã thực hiện hành vi đánh đánh bạc bằng hình thức mua số lô, số đề với số tiền các đối tượng dùng vào việc đánh bạc, cụ thể: của H là 3.000.000 đồng, của N là 2.300.000 đồng. Do đó hành vi của H và N chưa đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc. Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Bùi Khắc H và Nguyễn Văn N là phù hợp với quy định của pháp luật.

[8] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:

Đi với một tờ giấy thống kê lô đề và 02 tờ cáp lô đề mà Cơ quan điều tra đã thu giữ. Những chứng cứ này đã được lưu trong hồ sơ vụ án để làm căn cứ xử lý đối với bị cáo.

Đi với số tiền 5.300.000 đồng thu giữ của bị cáo đây là số tiền mà bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước là phù hợp với điểm b, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Đi với số tiền 1.529.000 đồng là tiền mà bị cáo thu được từ việc bán số lô, số đề cho khách qua đường Cơ quan điều tra không xác định được là bị cáo đã bán cho ai do vậy số tiền này cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

- Đối với 01 (một) chiếc bút bi màu đen - xám, mực màu đen nhãn hiệu matixs không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm a, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[10] Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; Các điểm i và s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

- Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự:

 

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

1/ Tuyên bố:

Bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phạm tội: Đánh bạc.

Xử phạt bị cáo như sau: Phạt tiền Nguyễn Thị Thanh T 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.

2/ Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 6.829.000 đồng (Trong đó 5.300.000đ là tiền mà bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sử dụng vào việc đánh bạc; 1.529.000 đồng là tiền mà Nguyễn Thị Thanh T đã bán số lô, số đề cho khách qua đường).

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc bút bi vỏ màu đen - xám, mực màu đen nhãn hiệu matixs đã thu giữ của Nguyễn Thị Thanh T sử dụng vào việc ghi số lô, số đề trong ngày 26/12/2018.

Nhng vật chứng trên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T theo theo giấy ủy nhiệm chi ngày 28 tháng 01 năm 2019 và biên bản giao nhận vật chứng ngày 28 tháng 01 năm 2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T.

3/ Về án phí:

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thanh T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. 


160
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 14/2019/HS-ST ngày 12/03/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:14/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Tam Điệp - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 12/03/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về