Bản án 14/2019/HS-ST ngày 03/05/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIA NGHĨA, TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 14/2019/HS-ST NGÀY 03/05/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 03 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2019/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2019/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2019 đối với:

Bị cáo Hà Văn D, sinh năm 1999 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi ĐKHKTT: Đội 4 cũ (nay là thôn Q2), xã T, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn A và bà Lê Thị L; chưa có vợ, con; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/01/2019 - Có mặt.

- Bị hại: Anh Trần Văn H, sinh năm 1981;

Địa chỉ: Thôn T, xã Q, thị xã G, tỉnh Đắk Nông - Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Anh Trần Văn H, sinh năm 1979 – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 23 giờ ngày 12/01/2019, Hà Văn D điều khiển xe mô tô BKS 48E1-17381 đi từ thôn 7, xã T, huyện S, tỉnh Đắk Nông đến địa bàn thị xã G để tìm quán 1 chơi Game. Khi đi đến thôn T, xã Q, thị xã G trên đường Quốc lộ 14, D phát hiện trong sân Đại Lý thu mua nông sản của gia đình anh Trần Văn H có đậy bạt che nhiều bao bì, D nghi đó là cà phê nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Sau khi quan sát thấy trong nhà và ngoài sân không có người trông coi, D trèo qua tường rào vào trong sân lấy trộm 01 bao cà phê nhân ném qua tường rào xuống bãi đất trống bên cạnh nhà anh H rồi trèo qua tường rào đi đến vị trí bao cà phê thì thấy anh H đang đứng ở cửa nhà nhìn ra, sợ bị phát hiện nên D giả vờ đi vệ sinh và điều khiển xe mô tô bỏ đi. Khoảng 10 phút sau D quay lại lấy bao cà phê nhân bỏ lên xe chở đi tiêu thụ thì bị anh H và anh Trần Văn H phát hiện và bắt giữ cùng vật chứng.

Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu LIFAN, BKS 48E1-17381 màu nâu, số máy VLF1P50FMG370005385, số khung RL8DCG1DL71005385 (xe D mượn của anh trai Hà Văn T).

- 01 bao cà phê nhân khô, trọng lượng 60 kg (đã trừ bao bì), đựng trong bao xác rắn màu xanh.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 06/KL-HĐĐG, ngày 15/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thị xã Gia Nghĩa Kết luận: 60 kg cà phê nhân trị giá là 2.010.000 đồng.

Xử lý vật chứng:

Ngày 31/01/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Gia Nghĩa đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 151, trả lại 60 kg cà phê nhân khô đựng trong bao xác rắn màu xanh (Có đặc điểm như trong biên bản tạm giữ) cho anh Trần Văn H là chủ sở hữu hợp pháp. Sau khi nhận lại tài sản, anh H không có yêu cầu gì thêm.

Đi với chiếc xe mô tô BKS 48E1-17381. Quá trình điều tra xác minh chiếc xe này là tài sản của anh Dương Văn D (sinh năm: 1997), trú tại thôn 8, xã T, huyện M, tỉnh Đắk Nông. Trước đó Q cho một người tên Đ (không rõ nhân thân, lai lịch) ở sát phòng trọ của Q tại xã N, thị xã U, tỉnh Bình Dương mượn nhưng không trả mà đem chiếc xe này đi bán cho Hà Văn T (sinh năm: 1994), là anh Trai của D ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 28/02/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Gia Nghĩa đã chuyển chiếc xe mô tô BKS 48E1-17381 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương để xử lý theo thẩm quyền.

Tại Bản cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 25 tháng 3 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gia Nghĩa đã truy tố bị cáo Hà Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bi cao đã khai nhận toàn bộ hanh vi của mình và thừa nhận Viên kiêm sat truy tố bị cáovề tội danh, khoản và điều luật áp dụng như Cáo trạng là đúng, không oan.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”. Sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hà Văn D từ 04 tháng đến 06 tháng tù.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Do bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Vic xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Chp nhận ngày 31/01/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Gia Nghĩa đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 151, trả lại 60 kg cà phê nhân khô đựng trong bao xác rắn màu xanh (có đặc điểm như trong biên bản tạm giữ) cho anh Trần Văn H là chủ sở hữu hợp pháp.

Ti phiên tòa bị cáo không trình bày lời bào chữa, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thị xã Gia Nghĩa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gia Nghĩa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng , người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Các chứng cứ buộc tội và quan điểm đề nghị xử lý của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là có căn cứ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Khong 23 giờ ngày 12/01/2019, tại Đại Lý thu mua nông sản của gia đình anh Trần Văn H thuộc thôn T, xã Q, thị xã G, tỉnh Đắk Nông, Hà Văn D đã có hình vi lén lút chiếm đoạt 01 bao cà phê nhân khô, giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 2.010.000đ (hai triệu không trăm mười nghìn đồng).

Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo nhận thức rằng quyền sở hữu tài sản của người khác luôn được pháp luật bảo vệ, bất kỳ một hành vi chiếm đoạt trái pháp luật nào cũng đều bị xử lý nghiêm theo quy định, vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân cộng với ý thức coi thường pháp luật nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt phù hợp đối với hành vi phạm tội của bị cáo.

[4] Tuy nhiên, bị cáo phạm tội chưa gây thiệt hại, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tài sản chiếm đoạt đã được trả lại cho bị hại. Vì vậy, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo D, để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian thì mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt thể hiện tính chất nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.

[5] Tại phiên tòa, qua phần tranh luận, xét quan điểm về đường lối xử lý vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông là có căn cứ nên cần chấp nhận.

[6] Việc bồi thường thiệt hại: Do bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[7] Việc xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47, khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Chp nhận ngày 31/01/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Gia Nghĩa đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 151, trả lại 60 kg cà phê nhân khô đựng trong bao xác rắn màu xanh (có đặc điểm như trong biên bản tạm giữ) cho anh Trần Văn H là chủ sở hữu hợp pháp.

Đi với chiếc xe mô tô BKS 48E1-17381, quá trình điều tra xác minh chiếc xe này là tài sản của anh Dương Văn Q, sinh năm 1997, trú tại thôn 8, xã R, huyện M, tỉnh Đắk Nông. Trước đó Q cho một người tên Đ (không rõ nhân thân, lai lịch) ở sát phòng trọ của Q tại xã N, thị xã U, tỉnh Bình Dương mượn nhưng không trả mà đem chiếc xe này đi bán cho Hà Văn T, sinh năm 1994 là anh trai của D ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 28/02/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Gia Nghĩa đã chuyển chiếc xe mô tô BKS 48E1-17381 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương để xử lý theo thẩm quyền, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[8] Về án phí: Bị cáo Hà Văn D phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hà Văn D 04 (bốn) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 13/01/2019).

2. Việc xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47; khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Chp nhận ngày 31/01/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Gia Nghĩa đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 151, trả lại 60 kg cà phê nhân khô đựng trong bao xác rắn màu xanh (có đặc điểm như trong biên bản tạm giữ) cho anh Trần Văn H là chủ sở hữu hợp pháp.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Hà Văn D phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


57
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 14/2019/HS-ST ngày 03/05/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:14/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Gia Nghĩa - Đăk Nông
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 03/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về