Bản án 14/2019/HNGĐ-ST ngày 16/09/2019 về ly hôn và tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 14/2019/HNGĐ-ST NGÀY 16/09/2019 VỀ LY HÔN VÀ TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 16 tháng 9 năm 2019 tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Krông Ana xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 54/2019/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2019 về “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26A/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2019/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trương Thị D, sinh năm 1984. Vắng mặt. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Đa chỉ: Ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

2. Bị đơn: Anh Ngọ Văn X, sinh năm 1984. Vắng mặt.

Đa chỉ: Buôn C, xã B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 27/3/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Trương Thị D trình bày:

Chị và anh Ngọ Văn X chung sống với nhau từ tháng 01/2006, nhưng đến ngày 20/12/2011 chị và anh X mới đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long, việc chị và anh X chung sống và kết hôn với nhau là hoàn toàn tự nguyện, vợ chồng chị sống hạnh phúc đến đầu năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn.

Nguyên nhân do anh X không chăm lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con, ham chơi bài bạc nên làm hao tốn tài sản của gia đình, chị D đã nhiều lần khuyên can nhưng anh X không thay đổi, làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Chị và anh X đã sống ly thân từ cuối năm 2015 đến nay. Nay chị nhận thấy tình cảm giữa chị và anh X không còn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, chị và anh X không còn chung sống với nhau đã lâu, nay không thể quay về chung sống với nhau được nữa, nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị ly hôn với anh Ngọ Văn X.

Về con chung: Trong thời gian chung sống chị Trương Thị D và anh Ngọ Văn X có 01 con chung tên là Ngọ Xuân M, sinh ngày 19/02/2007, hiện nay đang ở với chị D, khi ly hôn chị D có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh X cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Chị Trương Thị D xác định chị và anh Ngọ Văn X không có tài sản chung và hiện nay không nợ ai tài sản gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đi với bị đơn anh Ngọ Văn X: Tòa án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án và giấy triệu hợp lệ nhiều lần nhưng anh X không đến Tòa án làm việc. Qua xác minh tại địa phương thì được biết anh X hiện đang cư trú tại Buôn C, xã B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Tuy nhiên, anh X không đến Tòa án để tham gia tố tụng nên Tòa án không thể lấy lời khai của anh X được.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và về việc giải quyết vụ án:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự, thông báo về việc thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự đúng quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chị Trương Thị D thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự, bị đơn anh Ngọ Văn X không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các điều 56, 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trương Thị D, cho chị Trương Thị D được ly hôn với anh Ngọ Văn X.

Về con chung: Giao cháu Ngọ Xuân M, sinh ngày 19/9/2007 cho chị Trương Thị D trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trương Thị D không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản và nợ chung: Chị Trương Thị D xác định không có nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự chị Trương Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Trương Thị D có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Ngọ Văn X và yêu cầu được trực tiếp nuôi con. Đây là quan hệ tranh chấp “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”. Bị đơn anh Ngọ Văn X cư trú tại: Buôn C, xã B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

[2] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho bị đơn anh Ngọ Văn X, nhưng anh Ngọ Văn X không đến Tòa án làm việc nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai và hòa giải được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.

Anh Ngọ Văn X đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Chị Trương Thị D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

n cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, điểm a, điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[3] Về các yêu cầu của đương sự:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị D và anh Ngọ Văn X tự nguyện chung sống với nhau từ tháng 01/2006, đến ngày 20/12/2011 chị D và anh X đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị D và anh X chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh X không chăm lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con, ham chơi bài bạc làm hao tốn tài sản của gia đình. Chị D và anh X đã sống ly thân từ cuối năm 2015 đến nay. Qua xác minh tại Buôn C, xã B, huyện K, nơi anh X cư trú, thể hiện vợ chồng anh X và chị D đã xảy ra mâu thuẫn từ đầu năm 2015, chị D và anh X đã sống ly thân từ cuối năm 2015 đến nay.

Hi đồng xét xử xét thấy giữa chị Trương Thị D và anh Ngọ Văn X không còn tình cảm, thương yêu, tôn trọng nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D, cho chị Trương Thị D được ly hôn anh Ngọ Văn X là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Trương Thị D và anh Ngọ Văn X có 01 con chung là Ngọ Xuân M, sinh ngày 19/02/2007, khi ly hôn chị D có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Xét điều kiện, hoàn cảnh của chị Trương Thị D và nguyện vọng của cháu Ngọ Xuân M. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con, c ng như nghĩa vụ của cha m đối với con chưa thành niên, từ trước đến nay cháu Ngọ Xuân M ở với chị D tại Ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long có nơi ở, sinh hoạt, học tập ổn định. Đồng thời chị D có công việc và thu nhập ổn định. Căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao cháu Ngọ Xuân M cho chị Trương Thị D nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trương Thị D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Anh Ngọ Văn X có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở việc thực hiện quyền này.

Về tài sản chung: Chị Trương Thị D xác định chị và anh Ngọ Văn X không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Chị Trương Thị D xác định chị và anh Ngọ Văn X không nợ ai tài sản gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

[5] Về án phí: Chị Trương Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật, anh Ngọ Văn X không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, điểm a và điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 56; 81; 82; 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Trương Thị D.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trương Thị D và anh Ngọ Văn X.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung Ngọ Xuân M, sinh ngày 19/02/2007 cho chị Trương Thị D trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trương Thị D không yêu cầu nên không giải quyết. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Trương Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 9360 ngày 11/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.


50
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 14/2019/HNGĐ-ST ngày 16/09/2019 về ly hôn và tranh chấp nuôi con

Số hiệu:14/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Krông A Na - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 16/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về