Bản án 14/2019/DS-ST ngày 14/10/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 14/2019/DS-ST NGÀY 14/10/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Trong ngày 14 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 21/2019/TLST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2019 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 171/2019/QĐST-DS ngày 24 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S – Đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng giám đốc.

Đa chỉ: 266-268 N, phường 8, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền: ông Bành Trọng N, chức vụ: Giám đốc phòng giao dịch D, theo giấy ủy quyền số 316/2019/GUQ-CNNA ngày 25/5/2019 (Có mặt).

Đa chỉ: khối 4, thị trấn D, huyện D, Nghệ An

- Bị đơn: Chị Hồ Thị Bích H, sinh năm 1973

Trú tại: khối 3, thị trấn D, Nghệ An (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 09 tháng 01 năm 2019, được bổ sung tại bản tự khai và qua trình giải quyết tại Tòa án nguyên đơn trình bày: Ngày 16/6/2014 khách hàng Hồ Thị Bích H có hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP S – Chi Nhánh Nghệ An – Phòng giao dịch D, chi tiết như sau: Số Hợp đồng tín dụng: LD 1416700074 ngày 16/6/2014: Số tiền vay 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng). Thời hạn vay 36 tháng, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất 1%/tháng, trả lãi và gốc hàng tháng. Thời điểm trả hết nợ ngày 16/06/2017. Biện pháp bảo đảm tín chấp. Trong quá trình vay, từ ngày giải ngân đến nay khách hàng Hồ Thị Bích H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền gốc/lãi 42.708.000 đồng (Trong đó gốc 30.086.000đồng và lãi 12.622.000đồng. Trong quá trình trả nợ khách hàng thường xuyên trả trễ hạn. Ngân hàng đã làm việc, thông báo nhắc nhở nhưng khách hàng vẫn không có thiện chí trả nợ. Do khách hàng Hồ Thị Bích H vi phạm nghĩa vụ trả nợ nghiêm trọng ngày 15/7/2015 Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh Nghệ an – Phòng giao dịch D đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 04/10/2019 khách hàng Hồ Thị Bích H còn nợ số tiền gốc là 49.914.000đồng, tiền lãi trong hạn 16.178.000đ và lãi quá hạn 38.733.264 đồng (tổng cả gốc và lãi là 104.671.678đồng). Nay đề nghị Tòa án nhân dân huyện D buộc chị Hồ Thị Bích H phải thanh toán toàn bộ khoản nợ trên.

- Bị đơn chị Hồ Thị Bích H trình bày:

Tại bản tự khai và hòa giải ngày 04/10/2019 tại Tòa án chị Hồ Thị Bích H thừa nhận những yêu cầu của Ngân hàng là đúng. Theo chị lý do không thể trả nợ cho Ngân hàng như cam kết là vì điều kiện kinh tế khó khăn, phải trả nợ nhiều và nuôi các con ăn học nên không có khả năng trả được nợ nhiều. Chị đề nghị Ngân hàng xem xét cho chị trả nợ cả gốc và lãi mỗi tháng 500.000đồng (năm trăm nghìn đồng).

Phát biểu ý kiến tại phiên tòa, Kiểm sát viên đánh giá trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tiến hành đúng, đầy đủ quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Thẩm phán đảm bảo thời hạn xét xử, bị đơn chị Hồ Thị Bích H chưa chấp hành nghiêm các lần Tòa án triệu tập để làm việc. Tuy nhiên chị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Về nội dung: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân Hàng Thương Mại Cổ phần S buộc chị Hồ Thị Bích H phải trả nợ cho Ngân hàng tiền vay gốc 49.914.000đ; Tiền lãi trong hạn 16.178.000đ, lãi quá hạn 25.838.814đ. Tổng cộng cả gốc và lãi là 91.930.814đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về thủ tục tố tụng: chị Hồ Thị Bích H bị đơn trong vụ án đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị Hồ Thị Bích H.

[2]. Về nội dung vụ án: Các bên đương sự đều thừa nhận: ngày 16/6/2014 Ngân hàng TMCP S cấp tín dụng cho bà Hồ Thị Bích H chi tiết như sau: Hợp đồng tín dụng số LD 141670074 ngày 16/6/2014. Số tiền vay 80.000.000đ, số tiền thực tế giải ngân 80.000.000đ. Thời hạn 36 tháng, phương thức vay trung – dài hạn. Mục đích vay tiêu dùng, lãi suất trong hạn là 1%/1 tháng; Lãi suất quá hạn 150%.

Tính đến ngày 14/10/2019, chị Hồ Thị Bích H còn nợ Ngân hàng TMCP S các khoản sau: vốn 49.914.000đ.

Lãi suất trong hạn 16.178.000đ, lãi suất quá hạn 25.838.814đ Tổng cộng 91.930.814đồng Vì vậy cần áp dụng các Điều 463, 466, 470 Bộ luật dân sự buộc chị Hồ Thị Bích H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S, phòng giao dịch D số tiền gốc của hợp đồng tín dụng là 49.914.000đ (Bốn mươi chín triệu chín trăm mười bốn nghìn đồng) và tiền lãi là 42.016.814đ (Bốn mươi hai triệu không trăm mười sáu nghìn tám trăm mười bốn đồng).

Như vậy tổng cả gốc và lãi chị Hồ Thị Bích H phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền là 49.914.000đ + 42.016.814đ = 91.930.814đ (Chín mươi mốt triệu chín trăm ba mươi nghìn tám trăm mười bốn đồng).

[3] Án phí: Chị Hồ Thị Bích H phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điu 91, điều 95 Luật các tổ chức tín dụng và các Điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015, xử.

1. Buộc chị Hồ Thị Bích H phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S – Phòng giao dịch D số tiền nợ gốc là 49.914.000đ, tiền lãi suất 42.016.814đ. Tổng cả gốc và lãi là 91.930.814đ (Chín mươi mốt triệu chín trăm ba mươi nghìn tám trăm mười bốn đồng).

2. Về lãi suất kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm chị Hồ Thị Bích H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất hai bên thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa anh chị và Ngân hàng TMCP S – Phòng giao dịch D. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh của Ngân hàng cho vay.

3. Án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.Buộc chị Hồ Thị Bích H phải nộp 4.596.000đ (Bốn triệu năm trăm chín mươi sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền 2.347.000đ (Hai triệu ba trăm bốn mươi bày nghìn đông) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện D theo biên lai thu tiền số 0004603 ngày 12/4/2019.

Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên Toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đi với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn trên kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”


70
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 14/2019/DS-ST ngày 14/10/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:14/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Diễn Châu - Nghệ An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 14/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về