Bản án 14/2018/HSST ngày 08/02/2018 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BĐ, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 14/2018/HSST NGÀY 08/02/2018 VỀ TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 08 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện BĐ, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2018/HSST ngày 04 tháng 01 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử soos16/2018/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2018.

Đối với bị cáo:

BÙI KHẮC L-Sinh năm: 1997; HKTT: Thôn PV, xã PR, huyện PR, tỉnh Bình Phước; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 06/12; con ông Bùi Xuân T và bà Nguyễn Thị N; Bị cáo là con một trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 27/10/2017 đến nay (có mặt).

Người bị hại: chị Nguyễn Thị M, sinh năm: 1984; địa chỉ: ấp 04, xã TH, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 2710/2017, Bùi Khắc L phát hiện xe mô tô biển kiểm soát số 93T4-4802 có sẵn chìa khóa đang để ở trong vườn tiêu tại khu vực Ấp 04, xã Thanh Hòa, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước, không có người trông coi Bùi Khắc L liền nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô trên, Lập đến chỗ để xe mô tô nổ máy xe rồi điều khiển xe mô tô về phòng trọ của một ngườibạn tên Minh (chưa xác minh được nhân thân, lai lịch) thuộc nhà trọ của bàPhạm  Thị Ngọc T tại khu phố TB, thị trấn TB, huyện BĐ cất giấu xe mô tô. Sau khi mất xe chị Nguyễn Thị M đã nhờ Nguyễn Văn Q đi tìm xe, Quý gọi điện thoại cho Lê Văn D để nhờ D tìm giúp, đến khoảng 15 giờ cùng ngày D điện thoại yêu cầu Q đưa cho D 4.000.000đồng thì Danh chỉ cho chỗ lấy xe, sau khi Danh nhận tiền từ Q, D chỉ cho Q đến nơi L giấu xe mô tô, khi Q đến nơi giấu xe mô tô thì gặp Lập nhưng Lập không chịu trả xe nên giữa Lập và Q xẩy ra xô sát, Q lấy xe mô tô được về trả cho chị Mơ, còn L đến Công an tự thú.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 76/2017 ngày 30/10/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện BĐ xác định 01(một) xe mô tô hiệu Honđa, biển kiểm soát 93T4-4802 có giá trị 4.950.000đồng. Cáo trạng số 04/CTr/VKS-HS ngày 03 tháng 01 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện BĐ truy tố bị cáo Bùi Khắc L tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009)

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện BĐ giữ quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa, sau khi xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa vẫn khẳng định bị cáo có hành vi như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Khắc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”, và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo từ 08 đến 10 tháng tù.

Tại phiên tòa Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện BĐ đã công bố, bị cáo không có tranh luận gì với bản luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện BĐ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện BĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, đảm bảo đúng quyền và lợi ích hợp pháp của Bị cáo, Bị hại và những người tham gia tố tụng khác. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng.

Về nội dung: Vào khoảng 08 giờ 30 phút ngày 27/10/2017, Bùi Khắc L phát hiên xe mô tô biển kiểm soát số 93T4-4802 có cắm sẵn chìa khóa đang để ở trong vườn tiêu tại khu vực ấp 04, xã TH, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước, quansát xe không có người trông coi Bùi Khắc L liền nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe trên. Bùi Khắc L đến chỗ để xe mô tô nổ máy xe rồi điều khiển xe mô tô vềphòng trọ của bà Phạm Thị Ngọc T tại khu phố TB, thị trấn TB cất giấu xe mô tô. Tại bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng giá trị tài sản bị chiếm đoạt 4.950.000đồng. Hành vi trên của Bùi Khắc L bị truy tố theo khoản 01 Điều 138 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện BĐ truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại được pháp luật  bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây hoang mang cho dư luận xã hội. Bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp nhằm chiếm đoạt tài sản của bị hại.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đối với việc bị cáo ra cơ quan công an khai báo về hành vi của mình khi chưa có quyết định khởi tố vụ án, nhưng bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ người phạm tội ra “tự thú” vì hành vi của bị cáo đã bị anh Nguyễn Văn Quý phát hiện do đó hành vi này chỉ được coi là “đầu thú”. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trong vụ án này còn có đối tượng tên Minh là người mướn nhà trọ của bà Phạm Thị Ngọc Thủy mà bị cáo giấu chiếc xe chiếm đoạt được, hiện Cơ quan điều tra chưa xác minh được lai lịch khi nào xác minh được sẽ xử lý sau.

Đối với đối tượng Lê Văn D(Tèo Anh) Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng Danh không có mặt tại địa phương, khi nào xác minh có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự: đại diện bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì, nên không đặt ra

Xét sự đề xuất của vị đại diện VKS về mức hình phạt và các vấn đề khác là có cơ sở cần được chấp nhận.

Về vật chứng: Một xe mô tô hiệu Honđa, biển kiểm soát 93T4-4802 là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị M, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà là có căn cứ.

Về án phí:

Áp dụng Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Bùi Khắc L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; các điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều45; Điều 33 của Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Xử phạt Bùi Khắc L 08(tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/10/2017.Về án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sơ thẩm

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kểtừ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú.


65
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 14/2018/HSST ngày 08/02/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:14/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bù Đốp - Bình Phước
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:08/02/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
          Bản án/Quyết định phúc thẩm
            Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về