Bản án 141/2020/DS-ST ngày 15/09/2020 về đòi lại tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

BẢN ÁN 141/2020/DS-ST NGÀY 15/09/2020 VỀ ĐÒI LẠI TÀI SẢN

Ngày 15 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 88/2020/TLST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2020 về “Đòi lại tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2020/QĐXX-ST ngày 31 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nguyễn Vũ L, sinh năm: 1994.

Đa chỉ: Khu vực BH, phường VT, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Có mặt

2. Bị đơn: Lê Thanh H.

Đa chỉ: Khu vực BH, phường VT, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Nguyễn Vũ L trình bày: Vào ngày 06/02/2020 âl (tức ngày 28/02/2020 dl) do bạn bè thân thiết nên anh H có hỏi mượn tiền của anh L để lo việc gia đình, do anh L không có tiền mặt nên đã cầm 01 cái lắc tay 33 chỉ vàng 18k cho tiệm vàng Đông Huệ được số tiền 106.000.000 đồng và đưa tiền cho anh H, anh H hẹn đến ngày 11/5/2020 sẽ đến tiệm vàng chuộc lại chiếc lắc và trả lại cho anh L, nhưng đến hẹn mà anh H vẫn không chuộc lại nên anh L phải xuất tiền 106.000.000 đồng và phần tiền lãi 3.180.000 đồng để chuộc chiếc lắc về. Nay anh L khởi kiện yêu cầu anh H trả lại số tiền 109.180.000 đồng. Tại phiên tòa anh L yêu cầu anh H trả số tiền đã mượn 106.000.000 đồng trong thời gian sớm nhất.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Lê Thanh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần để trình bày ý kiến, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án không ghi được lời khai của bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1 Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án “Đòi lại tài sản” theo Điều 26, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

2 Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Lê Thanh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không có lý do, nên căn cứ vào Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

[3] Về nội dung: Ngày 06/02/2020 (âl) anh H có mượn 106.000.000 đồng của anh L và hẹn đến ngày 11/5/2020 sẽ trả cho anh L, tuy nhiên đến hạn mà anh H không trả tiền nên hai bên phát sinh tranh chấp.

[3.1] Nguyên đơn Nguyễn Vũ L cung cấp biên nhận nợ gốc ngày 06/02/2020 có chữ ký anh Lê Thanh H. Tại bản tự khai anh H cho rằng biên nhận nợ trên là do anh viết và ký tên nhưng là do anh bị anh L ép viết, thực chất số tiền anh nợ gốc chỉ 52.000.000 đồng, phần còn lại là tiền lãi và xin trả mỗi tháng 500.000 đồng cho đến khi hết nợ. Tuy nhiên anh H không đưa ra được chứng cứ chứng minh anh bị cưỡng ép khi làm biên nhận nợ. Tòa án cũng mời anh H đến để cung cấp chứng cứ, hòa giải và tham dự phiên tòa nhưng anh H vắng mặt nhiều lần không có lý do, xem như anh H đã từ bỏ quyền chứng minh của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Ngoài ra, anh L cũng đã cung cấp được biên nhận của tiệm vàng Đông Huệ nhận cầm chiếc lắc 33 chỉ vàng 18k với số tiền 106.000.000 đồng đúng theo biên nhận mà anh H đã viết, từ đó Hội đồng xét xử xác định anh H có mượn của anh L 106.000.000 đồng là đúng sự thật, theo thỏa thuận anh H có nghĩa vụ trả lại cho anh L vào ngày 11/5/2020 nhưng anh H không thực hiện. Như vậy, việc bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả tiền làm thiệt thòi đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Do đó việc nguyên đơn Nguyễn Vũ L khởi kiện yêu cầu anh Lê Thanh H trả số tiền còn nợ 106.000.000 đồng là có cở sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo Điều 351, Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

[3.2] Về lãi suất: Nguyên đơn Nguyễn Vũ L không yêu cầu nên không xem xét. 

[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn Lê Thanh H phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 36, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 351, 357 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Vũ L

[2] Buộc bị đơn Lê Thanh H trả cho nguyên đơn Nguyễn Vũ L số tiền 106.000.000 đồng (Một trăm lẻ sáu triệu đồng).

[3] Về lãi suất chậm trả: Nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét.

[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn Lê Thanh H phải chịu 5.300.000 đồng (Năm triệu ba trăm nghìn đồng). Nguyên đơn Nguyễn Vũ L được nhận lại số tiền tạm ứng án phí là 2.650.000 đồng (Hai triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000437 phiếu lập ngày 10/6/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ.

[5] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Lụât thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

[6] Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn Lê Thanh H được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 141/2020/DS-ST ngày 15/09/2020 về đòi lại tài sản

Số hiệu:141/2020/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Long Mỹ - Hậu Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 15/09/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về