Bản án 140/2019/DS-ST ngày 11/09/2019 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 140/2019/DS-ST NGÀY 11/09/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GÓP HỤI

Ngày 11 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 244/2019/TLST-DS ngày 24 tháng 5 năm 2019 về việc “Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 184/2019/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 114/2019/QĐST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị H, sinh năm 1961. (có mặt)

Địa chỉ: Ấp S, thị trấn N, huyện Đ, tỉnh Long An

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1962. (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp S, thị trấn N, huyện Đ, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 22 tháng 5 năm 2019 và những lời khai tiếp theo cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Hoàng Thị H trình bày:

Bà H có tham gia hụi do bà Nguyễn Thị B làm chủ hụi, cụ thể năm 2016 tham gia 03 dây hụi 1.000.000 đồng/tháng, khui ngày 10/02/2016, mỗi dây bà H tham gia 04 phần, tổng cộng 03 dây là 12 phần. Bà đóng đến ngày 14/5/2017 thì bà B tuyên bố vỡ hụi; bà B có chốt số tiền hụi bà H đã góp là 69.900.000 đồng, khấu trừ số tiền hụi chết là 1.000.000 đồng, còn lại 69.900.000 đồng và làm giấy tay có ghi rõ số tiền hụi còn nợ. Tuy nhiên đến nay bà B vẫn không trả cho bà H được số tiền nào dù bà H đã nhiều lần yêu cầu.

Nay, bà H yêu cầu bà Nguyễn Thị B trả cho bà số tiền hụi là 69.900.000 đồng, không yêu cầu trả lãi suất phát sinh. Bà cũng không có yêu cầu chủ thể khác có trách nhiệm liên đới cùng bà B.

Ngoài ra, bà không còn yêu cầu gì khác.

Bị đơn bà Nguyễn Thị B trình bày tại Bản tự khai ngày 28/8/2019: Bà xác nhận có nợ bà H số tiền hụi là 69.900.000 đồng. Bà đồng ý trả cho bà H số tiền này, nhưng xin được trả trong thời gian 03 tháng (ngày 28/11/2019).

Đng thời, ngày 28/8/2019, bà B có đơn đề nghị được vắng mặt tại các buổi làm việc, hòa giải, phiên họp, phiên tòa xét xử vụ án.

Tại phiên tòa, bà H đồng ý với thời gian thanh toán vào ngày 28/11/2019 do bà B đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Bà Hoàng Thị H khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị B trả số tiền hụi còn nợ.

Quan hệ tranh chấp là tranh chấp hợp đồng góp hụi theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà Nguyễn Thị B có hộ khẩu thường trú tại ấp S, thị trấn N, huyện Đ, tỉnh Long An và có mặt tại địa phương nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị B có yêu cầu vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Sau khi thụ lý vụ án, nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, bị đơn có đề nghị vắng mặt tại các buổi hòa giải, phiên họp nên Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về yêu cầu khởi kiện: Bà Hoàng Thị H khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị B trả số tiền hụi còn nợ là 69.900.000 đồng theo Giấy chốt tiền hụi ngày 15/5/2017 (đã khấu trừ số tiền hụi chết là 1.000.000 đồng). Bà Nguyễn Thị B xác nhận còn nợ bà H số tiền hụi đúng như lời trình bày của bà H và đồng ý trả số tiền này nên được xem là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử ghi nhận sự thống nhất lời trình bày của bà H và bà B.

[3]. Về lãi suất và trách nhiệm liên đới: Bà H không yêu cầu trả lãi suất phát sinh, cũng không có yêu cầu chủ thể khác có trách nhiệm liên đới cùng bà B nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Bà B đồng ý trả tiền nhưng đề nghị được trả trong thời gian 03 tháng, vào ngày 28/11/2019, bà H đồng ý với thời gian thanh toán do bà B đề nghị. Xét thấy, các đương sự có lời trình bày thống nhất với nhau về thời gian thanh toán nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Từ những phân tích [2], [3], [4], xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 29 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.

[5]. Về án phí: bà Nguyễn Thị B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 186, 273, Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 471, 357, 468 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 29 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị H đối với bà Nguyễn Thị B về việc tranh chấp “Hợp đồng góp hụi”.

Buộc bà Nguyễn Thị B có trách nhiệm trả cho bà Hoàng Thị H số tiền hụi là 69.900.000đồng – Sáu mươi chín triệu chín trăm ngàn đồng. Thời gian thanh toán vào ngày 28/11/2019.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí:

Bà Nguyễn Thị B phải chịu 3.495.000đồng án phí dân sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.

Hoàn lại cho bà Hoàng Thị H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.748.000đồng theo biên lai thu số 0004734 ngày 24/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hòa.

Án xử sơ thẩm và tuyên án công khai, nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


18
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 140/2019/DS-ST ngày 11/09/2019 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

Số hiệu:140/2019/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 11/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về