Bản án 134/2020/HS-ST ngày 12/11/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 134/2020/HS-ST NGÀY 12/11/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 12 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 134/2020/TLST- HS ngày 23/10/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2020/QĐXXST- HS ngày 30/10/2020 đối với bị cáo:

Đào Văn D, sinh năm 1991 tại tỉnh Hà Nam; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn K và bà Lê Thị L; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 21/9/2020, chuyển tạm giam từ ngày 27/9/2020; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Đào Văn K, sinh năm 1959; Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; có mặt.

* Người làm chứng: Anh Hoàng Văn L; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 20/9/2020, Đào Văn D điều khiển xe mô tô, BKS: 90B2 - 125.55 đến nhà một người đàn ông tên Tr ở phường Th, thành phố P mục đích mua ma túy để sử dụng. Khi đến cổng nhà Tr, D gọi cửa thì Tr đi ra hỏi “việc gì”, D trả lời “bán cho em hai trăm” rồi lấy 200.000đ đưa cho Tr qua khe cổng. Tr cầm tiền và nói “Đợi một tý” rồi đi vào trong nhà khoảng 2 phút sau quay ra đưa qua khe cổng cho D 01 gói giấy bạc màu trắng, biết là gói ma túy nên D cầm cất vào túi quần phía sau bên phải, điều khiển xe mô tô đi đến tổ 6, phường Th, thành phố P thì bị lực lượng Công an phường Q, thành phố P phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Tại chỗ, D tự giác giao nộp cho lực lượng Công an 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục và khai nhận đó là gói ma túy vừa mua cất giữ mục đích để sử dụng. Lực lượng Công an đã đưa D cùng vật chứng về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật.

Thu giữ vật chứng gồm: 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục (niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, BKS: 90B2 - 125.55.vxcxcbv Ngày 21/9/2020, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Phủ Lý đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đào Văn D tại thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Tại Bản kết luận giám định số 191/PC09-MT ngày 23/9/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam, kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì kí hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,257 g loại:

Heroine” Tại bản cáo trạng số 135/CT-VKS-PL ngày 22/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã truy tố Đào Văn D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố D và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47, Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo D từ 15 đến 18 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của bị cáo được hoàn trả lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói.

Tại phiên tòa, bị cáo Đào Văn D khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Đào Văn K trình bày: Ông là bố đẻ của bị cáo Đào Văn D, chiếc xe mô tô Honda Air Blade, BKS: 90B2 -125.55 là tài sản hợp pháp của ông, ngày 20/9/2020 D mượn xe để đi nhưng ông không biết bị cáo D dùng làm phương tiện đi mua ma túy sử dụng. Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Phủ Lý đã trả lại chiếc xe trên cho ông, nay ông không có yêu cầu gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối với người tham gia tố tụng là người làm chứng anh Hoàng Văn L mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai, anh Lê được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định pháp luật.

[3] Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Đào Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý đã nêu. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, bản kết luận giám định, lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 20/9/2020, tại khu vực nghĩa trang Đường Thổ thuộc tổ 6, phường Th, thành phố P, tỉnh Hà Nam, Đào Văn D đang cất giữ trái phép 0,257 gam ma túy, loại Heroine mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an phường Q, thành phố P phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với pháp luật.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt:

Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an trong xã hội và là nguyên nhân phát sinh nhiều hành vi vi phạm pháp luật khác. Do vậy cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Song xét bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo nên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, mục đích tàng trữ là để sử dụng nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về nguồn gốc số ma túy thu giữ và đối tượng bán ma túy cho bị cáo D: Bị cáo xác định số ma túy trên là do bị cáo mua của người đàn ông tên Tr ở phường Th, thành phố P vào ngày 20/9/2020 với giá 200.000đ. Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Phủ Lý đã phối hợp với Công an phường Thanh Tuyền, thành phố Phủ Lý xác minh, kết quả: Trên địa bàn phường Thanh Tuyền có người tên Hoàng Văn Tr, sinh năm 1975, trú tại: Tổ 5, phường Thanh Tuyền, thành phố Phủ Lý, Cơ quan CSĐT- Công an thành phố Phủ Lý đã nhiều lần triệu tập nhưng Tr không có mặt tại nhà và địa phương, ngoài lời khai của D không còn tài liệu, chứng cứ nào khác. Do đó, chưa đủ căn cứ để xử lý trong vụ án này. Yêu cầu cơ quan CSĐT - Công an thành phố Phủ Lý tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

[7] Về vật chứng và tài sản đã thu giữ: Đối với số Heroine được niêm phong trong phong bì số 191/PC09-MT là vật cấm tàng trữ, do vậy cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, BKS: 90B2-125.55 là tài sản hợp pháp của ông Đào Văn K (là bố đẻ của bị cáo). Ông K cho D mượn chiếc xe mô tô trên để đi nhưng không biết D sử dụng để đi mua trái phép chất ma túy. Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Phủ Lý đã trả lại cho ông K chiếc xe là phù hợp quy định của pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo D phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện quyền kháng cáo theo pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Tuyên bố bị cáo Đào Văn D phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2] Xử phạt bị cáo Đào Văn D 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 21/9/2020).

[3] Xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì đã niêm phong mặt trước ghi: “Mẫu vật hoàn trả QT01” số: 191/PC09-MT có chữ ký và dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam.

Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phủ Lý ngày 23/10/2020.

[4] Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Đào Văn D phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 134/2020/HS-ST ngày 12/11/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:134/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phủ Lý - Hà Nam
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:12/11/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về