Bản án 133/2019/HS-ST ngày 12/06/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Đ - THÀNH PHỐ H

BẢN ÁN 133/2019/HS-ST NGÀY 12/06/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Hôm nay, hồi 14 giờ 00 ngày 12 tháng 06 năm 2019 tại Toà án nhân dân quận Đ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 156/2019/TLST-HS ngày 27 tháng 05 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 154/2019/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 05 năm 2019 đối với các bị cáo:

LÊ NGỌC L; sinh ngày 02/02/1998 tại tỉnh T; HKTT: Thôn 3, xã X, huyện T, tỉnh T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Ngọc T và bà Trịnh Thị Q; Vợ Lê Thị H có 01 con sinh năm 2017; tiền án: không, tiền sự: không; Danh chỉ bản số 229 lập ngày 07/03/2019 tại Công an quận Đ, thành phố H; Bị bắt ngày 06/03/2019; Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

LÊ NGỌC B; sinh ngày 26/10/2000 tại Thanh Hóa; HKTT: xã X, huyện T, tỉnh T; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Ngọc H và bà Nguyễn Thị K; Vợ Võ Thị T, có 01 con sinh năm 2018; tiền án: không, tiền sự: không; Danh chỉ bản số 228 lập ngày 07/03/2019 tại Công an quận Đ, thành phố H; Bị bắt ngày 06/03/2019; Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị T, sinh năm 1992; Trú tại: xã X, huyện T, tỉnh T (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21h30 ngày 06/03/2019, tại trước nhà số 17 ngõ 221 T H, quận Đ, thành phố H. Tổ công tác Công an phường H đang làm nhiệm vụ phát hiện Lê Ngọc L và Lê Ngọc B có biểu hiện nghi vấn đã tiến hành kiểm tra. Qúa trình kiểm tra, tổ công tác đã thu giữ trong túi bên phải áo khoác màu ghi xám của L để trên ghi đông xe máy Honda Wave BKS: 37D1-570.35 của L và B có 01 bao thuốc lá Thăng L có chứa 01 túi nilon màu trắng KT: (04x06)cm bên trong chứa các tinh thể màu hồng và 01 viên nén hình tròn màu đỏ đường kính 0,5 cm. Tại chỗ, L và B khai nhận túi nilon trên chứa ma túy tổng hợp, L và B khai vừa chung tiền mua và đang tìm nơi để sử dụng. Cơ quan Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa các đối tượng về trụ sở để giải quyết. Ngoài ra, cơ quan Công an thu giữ của Lê Ngọc L 01 áo khoác màu ghi xám, 01 điện thoại OPPO F9 màu đen có sim số 0359032340 và số tiền 300.000đồng. Thu giữ của Lê Ngọc B 01 xe máy Honda Wave BKS: 37D1-5570.35; 01 điện thoại OPPO màu vàng có sim số 0969243118.

Tại bản kết luận giám định số 1524/KLGĐ-PC09 ngày 04/03/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố H kết luận 01 túi nilon bên trong có:

+Tinh thể màu hồng là ma túy loại Methamphetamine khối lượng: 0,657 gam.

+ 01 viên nén màu đỏ là ma túy loại Methamphetamine khối lượng: 0,116 gam.

Tại cơ quan điều tra Lê Ngọc L, Lê Ngọc B khai nhận: Khoảng 17h 30 ngày 6/3/2019, L sử dụng điện thoại sim số 0359032340 gọi vào số điện thoại 0969243118 của B rủ chung tiền mua ma túy về sử dụng, B đồng ý góp 300.000đồng cho L để mua ma túy sử dụng và hẹn đưa tiền sau. L thuê xe ôm chở đến khu vực cổng ra xe khách bến xe M, phường M, quận N, thành phố H gặp và mua 300.000 đồng tiền ma túy của T (bạn xã hội). Thắng nhận tiền rồi đưa cho L 01 túi ma túy bên ngoài bọc nilon màu trắng có KT: (4x6) cm bên trong chứa tinh thể màu hồng và 01 viên nén màu đỏ. Mua xong, L cất túi ma túy vào túi quần phía trước bên trái rồi thuê xe ôm đi về nhà trọ của B tại số nhà 5 ngõ 23 xóm T, xa H, huyện T, thành phố H. Tại đây, L đưa B xem số ma túy vừa mua, B đưa cho L 300.000 đồng tiền góp mua ma túy. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, L và B rủ nhau đi tìm nơi sử dụng ma túy, L mượn áo khoác màu ghi xám của B mặc và bảo B đưa vỏ bao thuốc lá Thăng Long cho túi nilon ma túy vào bên trong rồi cất vào túi bên phải áo khoác. Sau đó, L điều khiển xe máy Wave RS màu đen có BKS: 37D1- 570.35, B ngồi phía sau đến quán nước tại trước số 17 ngõ 221 T, H, quận Đ, thành phố H. Tại đây, L cởi áo khoác và để trên ghi đông xe máy. Đến khoảng 21h 30 cùng ngày, tổ công tác Công an phường H kiểm tra bắt quả tang thu giữ tang vật.

Kết quả điều tra 01 xe máy Wave RS màu đen có BKS: 37D1-570.35 thuộc sở hữu của chị Trần Thị T (sinh 1992, trú tại: xã X, huyện T, tỉnh T) xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của L, B. Ngày 26/03/2019, cơ quan CSĐT- Công an quận Đ đã trao trả cho chị T chiếc xe máy trên.

Về đối tượng Thắng bán ma túy cho Lê Ngọc L do không xác định được nhân thân, địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với số ma túy thu giữ của L và B, 02 ĐTDĐ L và B sử dụng liên lạc rủ nhau mua ma túy, 01 áo khoác màu ghi xám và số tiền 300.000đồng. Cơ quan CSĐT- Công an quận Đ đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự quận Đ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 154/CT-VKS ngày 20/05/2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Đ truy tố Lê Ngọc L và Lê Ngọc B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249- Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, các bị cáo công nhận nội dung bản cáo trạng nêu là đúng, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là phạm tội và ăn năn hối cải. Các bị cáo xin được hưởng mức án nhẹ nhất.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố sau khi phân tích đánh giá tính chất mức độ phạm tội của các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ: điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51 - Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lê Ngọc L từ 20 đến 24 tháng tù; xử phạt bị cáo Lê Ngọc B từ 18 đến 22 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ, tịch thu sung quỹ nhà nước 02 điện thoại, số tiền 300.000 đồng; tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác màu ghi xám; Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo xuất trình các tài liệu, chứng cứ phù hợp quy định pháp luật, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với bản kiểm điểm, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của nhân chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 21h30 ngày 06/03/2019, tại trước nhà số 17 ngõ 221 T, H, quận Đ, thành phố H. Tổ công tác Công an phường Hột bắt quả tang Lê Ngọc L và Lê Ngọc B có hành vi Tàng trữ trái phép 0,773 gam Methamphetamin mục đích để sử dụng.

Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân quận Đ, thành phố H truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý chất gây nghiện của nhà nước, tiếp tay cho các loại tội phạm về ma túy khác, gây mất trật tự trị an địa phương. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.

[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Đối với Lê Ngọc L: Tình tiết tăng nặng: không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, lần đầu bị đưa ra xét xử là các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với Lê Ngọc B:

Tình tiết tăng nặng: không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, lần đầu bị đưa ra xét xử là các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đây là vụ án có đồng phạm thuộc loại giản đơn. Xét vai trò, hành vi của các bị cáo cho thấy: các bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy, cùng rủ nhau mua ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân. Vì vậy các bị cáo chịu hình phạt như nhau.

[4] Về những vấn đề khác: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Hội đồng xét xử xét:

Về xử lý vật chứng:

Đối với số ma túy thu giữ của các bị cáo là 0,773 gam Methamphetamin đựng trong 01 vỏ bao thuốc lá. Đây là vật cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy;

Đối với 01 điện thoại OPPO F9 màu đen và 01 điện thoại OPPO màu vàng các bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy nên tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước.

Đối với 01 áo khoác màu ghi xám, bị cáo dùng để bọc ma túy nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 300.000 đồng thu giữ của L là số tiền dùng để mua ma túy nên tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước.

Xét các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Từ lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Lê Ngọc L và Lê Ngọc B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy ”.

Căn cứ: Điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Lê Ngọc L 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/03/2019.

Xử phạt: Lê Ngọc B 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/03/2019.

Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 - Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tịch thu tiêu hủy: 01(một) phong bì niêm phong bên ngoài có chữ ký của đối tượng Lê Ngọc L, Lê Ngọc B và giám định viên Lê Khắc N bên trong có chứa 01 vỏ bao thuốc là Thăng Long màu vàng và ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,773 gam; 01 áo khoác màu ghi xám.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước: 01 điện thoại OPPO F9 màu tím số IMEI 1: 866376046345119 và 01 điện thoại OPPO màu vàng số IMEI 1: 866346033229477;

Hiện các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Đ (Biên bản giao nhận vật chứng số 205 ngày 11/06/2019).

Tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), hiện đang lưu giữ tại Kho bạc Nhà Nước Đ theo tài khoản 3949 của Chi cục thi hành án dân sự quận Đ (Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 29/05/2019).

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.


47
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 133/2019/HS-ST ngày 12/06/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:133/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Đống Đa - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:12/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về