Bản án 13/2020/HNGĐ-ST ngày 22/05/2020 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 13/2020/HNGĐ-ST NGÀY 22/05/2020 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 22 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 01/2020/TLST-HNGĐ ngày 09/01/2020 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2020/QĐST - HNGĐ ngày 28/4/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2020/QĐST-HNGĐ ngày 14/5/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị A, Sinh năm: 1975 Địa chỉ: Tổ 5, khu B, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn H, Sinh năm: 1970 Địa chỉ: Tổ 5, khu B, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do và không có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 27/12/2019, tại bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thị A trình bày:

Chị và anh Hoàng Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh vào ngày 10/8/2000. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống với nhau tại tổ 5, khu B, phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2008 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do hai người tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh H sống không chung thủy với vợ, nhiều lần hai vợ chồng xảy ra cãi vã, to tiếng đánh đập chửi bới nhau. Cuộc sống rất căng thẳng, nặng nề và không tìm được tiếng nói chung. Năm 2008 chị đã nộp đơn đến Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí để xin ly hôn với anh H, tuy nhiên sau khi được Tòa án tiến hành hòa giải chị đã cho anh H cơ hội để hai vợ chồng hàn gắn chị đã rút đơn về nhưng chỉ được hơn một năm anh H lại vẫn sống như trước không thay đổi nên vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng. Hiện nay hai vợ chồng đã sống ly thân mỗi người đều có cuộc sống riêng, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, không thể hàn gắn được nên chị đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn H.

Về con chung: chị A và anh H có 02 con chung tên là Hoàng Văn V sinh ngày 14/11/1994 (đã thành niên) và Hoàng Việt H sinh ngày 16/6/2005. Nếu vợ chồng ly hôn chị muốn để anh H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hoàng Việt H đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi), chị A không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tuy nhiên, trước khi xét xử ngày 13/5/2020 chị A có đơn trình bày thay đổi quan điểm về việc nuôi con chung muốn được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu Hoàng Việt H có đơn trình bày nguyện vọng cháu muốn ở với mẹ.

Về tài sản chung: Chị A và anh H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập, thông báo các văn bản tố tụng hợp lệ theo quy định của pháp luật cho anh Hoàng Văn H tuy nhiên anh Hoàng Văn H vẫn vắng mặt không có lý do, thể hiện thái độ không hợp tác.

Tại biên bản xác minh ngày 23/4/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh - Ông Nguyễn Việt H là trưởng khu B, phường P, thành phố U cung cấp sự việc: Chị A và anh H là công dân cư trú tại tổ 5, khu B, phường P, TP U. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2008 thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do hai người tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống không tìm được tiếng nói chung, hai vợ chồng nhiều lần xảy ra xô sát, cãi vã, to tiếng với nhau. Tất cả các văn bản tố tụng, giấy triệu tập của Tòa án chị Bùi Thị Huyền T là con dâu ở cùng nhà với anh H đã nhận văn bản thay và giao trực tiếp đến tận tay anh H. Anh H đã biết về việc ly hôn tuy nhiên không hiểu lý do vì sao anh H không đến Tòa án để làm việc. Hiện nay hai vợ chồng đã sống ly thân, con chung đang ở với mẹ, anh H là công nhân có thu nhập ổn định, chị A làm công việc tự do thu nhập không ổn định.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử. - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của các đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của bị đơn tại Điều 70, 72 BLTTDS.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân: chị A và anh H kết hôn đúng quy định của pháp luật. Quá trình chung sống vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng không khắc phục được. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xử cho chị Trần Thị A được ly hôn anh Hoàng Văn H; Giao con chung Hoàng Việt H sinh ngày 16/6/2005 cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Việc thụ lý và giải quyết vụ án dân sự về tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa các đương sự có nơi cư trú tại thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Hoàng Văn H được Toà án tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng thủ tục tố tụng nhưng anh H vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Hoàng Văn H.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị A và anh Hoàng Văn H kết hôn vào năm 2000 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật bảo vệ. Hội đồng xét xử xét thấy để cuộc sống hôn nhân tồn tại, mục đích hôn nhân đạt được thì phải xuất phát từ ý chí, nguyện vọng của hai vợ chồng, vợ chồng phải thương yêu, chung thủy, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc. Tuy nhiên quá trình chung sống với nhau một thời gian thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do hai người tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh H sống không chung thủy với vợ, nhiều lần hai vợ chồng xảy ra cãi vã, to tiếng đánh đập chửi bới nhau, hai vợ chồng đã sống ly thân, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã nhiều lần triệu tập các đương sự để tiến hành hòa giải tạo cơ hội hàn gắn tình cảm vợ chồng cùng nhau gỡ bỏ mâu thuẫn trong cuộc sống nhưng anh H vẫn vắng mặt không lý do cố tình không hợp tác chứng tỏ anh H cũng không tha thiết hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị A và anh H đã trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị A là phù hợp với thực tế và quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Chị A và anh H có 02 con chung tên là Hoàng Văn V sinh ngày 14/11/1994 (đã thành niên) và Hoàng Việt H sinh ngày 16/6/2005. Trong quá trình giải quyết, chị A có quan điểm về việc nuôi con chung là chị muốn để anh H được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hoàng Việt H. Tuy nhiên, trước khi xét xử ngày 13/5/2020 chị A có đơn trình bày thay đổi quan điểm về việc nuôi con chung, chị muốn được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tại biên bản lấy lời khai ngày 18/02/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, cháu Hoàng Việt H thể hiện quan điểm nếu bố mẹ ly hôn, cháu muốn được ở với bố vì bố cháu có đủ điều kiện chăm sóc, giáo dục cháu tốt hơn mẹ cháu. Trước khi xét xử ngày 19/5/2020 cháu H có đơn trình bày nguyện vọng được ở với mẹ vì bố cháu thường xuyên vắng nhà, không quan tâm gì đến cháu. Mặt khác anh H vắng mặt nên không có quan điểm về việc nuôi con chung khi ly hôn. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của con, cần giao con chung cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế và phù hợp với quy định tại các Điều 81,82,83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.3] Về tài sản chung: Chị A không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết về tài sản; anh H vắng mặt, không có quan điểm về tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết về vấn đề tài sản.

[3] Về án phí: Chị A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Khoản 1 Điều 56; các Điều 81,82,83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình.

-Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị A về việc xin ly hôn với anh Hoàng Văn H.

Tuyên xử:

1. Cho chị Trần Thị A được ly hôn anh Hoàng Văn H.

2. Về con chung: Giao con chung Hoàng Việt H sinh ngày 16/6/2005 cho chị Trần Thị A trực tiếp nuôi dưỡng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Hoàng Văn H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Anh H không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng cũng có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung, không ai được cản trở. Đồng thời anh H còn có quyền yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con chung nếu chị A không nuôi dưỡng được con chung.

3. Về án phí: Chị Trần Thị A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị A đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003217 ngày 09/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Chị A đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 13/2020/HNGĐ-ST ngày 22/05/2020 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:13/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Uông Bí - Quảng Ninh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:22/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về