Bản án 13/2020/DS-ST ngày 03/02/2020 về tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 13/2020/DS-ST NGÀY 03/02/2020 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN CĂN HỘ

Ngày 03 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 105/2019/TLST-DS ngày 25 tháng 02 năm 2019, về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán căn hộ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 319/2019/QĐXXST-DS ngày 27/12/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2020/QĐST-DS ngày 15/01/2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Đỗ Phước M, sinh năm 1959

Địa chỉ: 214 Chung cư T, Phường K, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Vắng mặt) Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N; Sinh năm 1974; Trú tại: 373/24/16 đường N, Phường B, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Theo Hợp đồng ủy quyền số công chứng 30477 ngày 19/12/2018 lập tại Phòng Công chứng số 2, Thành phố Hồ Chí Minh).(Vắng mặt) 

2. Bị đơn: Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP.

Trụ sở: Số 312-314 đường T, Phường T, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Văn M; sinh năm: 1962

 Địa chỉ: 539 đường T, Phường T, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo pháp luật của bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

(vắng mặt) Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/12/2018 cùng các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, ông Nguyễn Văn N là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Năm 2011, ông Đỗ Phước M đã thỏa thuận về việc ông có mua căn hộ A2- LA, Tầng 19 thuộc dự án Chung cư Cao cấp Vạn Hưng Phát tọa lạc tại địa chỉ: 339 Bông Sao, Phường 5, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh của Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP. Tổng giá trị căn hộ là 2.615.854.835 đồng. Ngày 21/01/2011 Ông M đã đóng số tiền là 2.485.062.093 đồng (hai tỷ, bốn trăm tám mươi lăm triệu, không trăm sáu mươi hai ngàn, không trăm chín mươi ba đồng) cho Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP (theo Phiếu thu số PT 01 ngày 21/01/2011).

Từ đó, ngày 25/01/2011 hai bên ký hợp đồng mua bán căn hộ chung cư số: 70B/2011/HĐMBCH-VHP và 04 Phụ lục hợp đồng (Ban hành kèm theo hợp đồng mua bán căn hộ chung cư số 70B/2011/HĐMBCH-VHP ngày 25/01/2011) gồm: Phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐ-VHP ngày 25/01/2011; Phụ lục hợp đồng số 02/PLHĐ-VHP ngày 25/01/2011; Phụ lục hợp đồng số 03/PLHĐ-VHP ngày 25/01/2011; Phụ lục hợp đồng số 04/PLHĐ-VHP ngày 25/01/2011.

Theo thỏa thuận tại hợp đồng nêu trên, Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP phải bàn giao căn hộ cho Ông M vào cuối quý I năm 2013 (tức là ngày 30/3/2013). Nếu đến ngày 30/3/2014, Công ty vẫn chưa bàn giao thì Công ty chịu phạt 15% trên tổng giá trị đã thanh toán.

Tuy nhiên, từ đó cho đến nay Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP vẫn không bàn giao căn hộ đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của Ông M. Ngày 26/11/2018 nguyên đơn đã gửi Thông báo về việc đòi tiền mua căn hộ cho ông Nguyễn Văn M là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP để yêu cầu hoàn trả tiền mua căn hộ Ông M đã thanh toán trong thời hạn 15 ngày. Hết thời hạn trên nhưng Ông M không nhận được phúc đáp từ phía Công ty. Vì vậy, ông Đỗ Phước M khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP:

Hủy hợp đồng mua bán căn hộ số: 70B/2011/HĐMBCH-VHP ngày 25/01/2011 và 04 Phụ lục hợp đồng gồm: Phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐ-VHP ngày 25/01/2011, Phụ lục hợp đồng số 02/PLHĐ-VHP ngày 25/01/2011, Phụ lục hợp đồng số 03/PLHĐ-VHP ngày 25/01/2011, Phụ lục hợp đồng số 04/PLHĐ-VHP ngày 25/01/2011 giữa ông Đỗ Phước M với Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP; Buộc Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP trả lại cho Ông M tổng số tiền Ông M đã thanh toán cho Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP là 2.485.062.093 đồng (hai tỷ, bốn trăm tám mươi lăm triệu, không trăm sáu mươi hai ngàn, không trăm chín mươi ba đồng), thanh toán một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Đồng thời, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đòi tiền phạt do chậm trễ trong việc giao căn hộ là 372.759.300đ (ba trăm bảy mươi hai triệu, bảy trăm năm mươi chín ngàn, ba trăm đồng). Ông M cũng xác định Ông M đang độc thân, chưa kết hôn với ai.

Bị đơn Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP, ông Nguyễn Văn M là người đại diện theo pháp luật đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án không thu thập được lời khai, không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến xét xử Tòa án đã chấp hành đúng các qui định của pháp luật về tố tụng dân sự, về thời hạn chuẩn bị xét xử chưa đảm bảo theo quy định của pháp luật; nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật; bị đơn không thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Phước M và đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện về đòi tiền phạt do chậm trễ trong việc giao căn hộ là 372.759.300đ (ba trăm bảy mươi hai triệu, bảy trăm năm mươi chín ngàn, ba trăm đồng) của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Đồng thời, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn N có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP và nguyên đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Khoản 1, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Đồng thời, Tòa án đã áp dụng Điều 180 Bộ luật tố tụng Dân sự để nguyên đơn tiến hành thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về thời gian tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải 02 lần; tham gia phiên tòa xét xử 02 lần cho ông Nguyễn Văn M là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP nhưng Ông H vẫn vắng mặt không có lý do.

Theo văn bản số 860/UBND-XNTTHN ngày 24/9/2019 của Ủy ban nhân dân Phường 14, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh thì ông Đỗ Phước M chưa đăng ký kết hôn với ai. Do đó, Tòa án không triệu tập thêm người tham gia tố tụng nào khác.

[2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét thấy, đây là vụ án dân sự tranh chấp về hợp đồng mua bán căn hộ, do bị đơn và bất động sản ở tại Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo qui định tại Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Về các yêu cầu của đương sự:

[3.1]. Ông Đỗ Phước M yêu cầu Tòa án: Hủy hợp đồng mua bán căn hộ số: 70B/2011/HĐMBCH-VHP ngày 25/01/2011 và 04 Phụ lục hợp đồng gồm: Phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐ-VHP ngày 25/01/2011, Phụ lục hợp đồng số 02/PLHĐ-VHP ngày 25/01/2011, Phụ lục hợp đồng số 03/PLHĐ-VHP ngày 25/01/2011, Phụ lục hợp đồng số 04/PLHĐ-VHP ngày 25/01/2011 giữa ông Đỗ Phước M với Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP; Buộc Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP trả lại cho Ông M tổng số tiền Ông M đã thanh toán cho Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP là 2.485.062.093đ (hai tỷ, bốn trăm tám mươi lăm triệu, không trăm sáu mươi hai ngàn, không trăm chín mươi ba đồng), thanh toán một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án cùng lời khai của nguyên đơn cung cấp, đã có đủ cơ sở xác định ông Đỗ Phước M có thỏa thuận với Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP, về việc Ông M mua căn hộ A2-LA, Tầng 19 Thuộc dự án Chung cư Cao cấp Vạn Hưng Phát tọa lạc tại địa chỉ: 339 Bông Sao, Phường 5, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Tổng giá trị căn hộ là 2.615.854.835 đồng. Ngày 21/01/2011 Ông M đã đóng số tiền là 2.485.062.093 đồng (hai tỷ, bốn trăm tám mươi lăm triệu, không trăm sáu mươi hai ngàn, không trăm chín mươi ba đồng) cho Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP theo Phiếu thu số PT 01 ngày 21/01/2011. Từ thỏa thuận nêu trên hai bên đã chính thức ký hợp đồng mua bán căn hộ số: 70B/2011/HĐMBCH-VHP ngày 25/01/2011 và 04 Phụ lục hợp đồng gồm: Phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐ-VHP ngày 25/01/2011, Phụ lục hợp đồng số 02/PLHĐ-VHP ngày 25/01/2011, Phụ lục hợp đồng số 03/PLHĐ-VHP ngày 25/01/2011, Phụ lục hợp đồng số 04/PLHĐ-VHP ngày 25/01/2011. Theo quy định tại Điều 7 của hợp đồng, Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP phải bàn giao căn hộ cho Ông M vào cuối quý I năm 2013 (túc ngày 30/3/2013). Nếu đến ngày 30/3/2014, Công ty vẫn chưa bàn giao thì Công ty chịu phạt 15% trên tổng giá trị đã thanh toán.

Như vậy, mặc dù nguyên đơn đã thanh toán số tiền 2.485.062.093 đồng cho Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP nhưng phía bị đơn đã không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình về tiến độ công trình, không bàn giao căn hộ cho Ông M theo đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng. Đồng thời, nguyên đơn cũng đã có thiện chí gửi Thông báo về việc đòi tiền mua căn hộ cho ông Nguyễn Văn M là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP để yêu cầu hoàn trả tiền mua căn hộ đã thanh toán nhưng hết thời hạn thông báo Ông M vẫn không nhận được phúc đáp từ phía bị đơn nên đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của ông Đỗ Phước M. Theo các văn bản số 6943/SXD-PTN&TTBĐS ngày 19/5/2017; Văn bản số 10402/SXD-PTN&TTBĐS ngày 13/7/2017; Tiểu mục 1, mục II Văn bản số 8900/SXD-TT ngày 30/7/2018; Văn bản số: 10086/SXD-PTN&TTBĐS ngày 24/8/2018 và văn bản số 9636/SXD-PTN&TTBĐS ngày 02/8/2019 của Sở xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh thì Sở Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh chưa nhận được Thông báo của Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP về việc Thông báo bán nhà ở hình thành trong tương lai, đề nghị xác nhận việc huy động không phải thông qua sàn giao dịch bất động sản theo quy định tại Điều 9 của Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở. Đồng thời, Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP đã thi công hoàn thành phần móng, thi công dở dang phần tầng hầm (chưa đổ bê tông nắp hầm - sàn tầng trệt), tại thời điểm kiểm tra công trình đang ngừng thi công. Hạng mục phần móng chưa được nghiệm thu, chủ đầu tư chưa liên hệ Sở xây dựng để được xem xét đủ điều kiện huy động vốn theo quy định; Chưa hoàn thành thủ tục mua bán qua sàn giao dịch bất động sản mà đã ký hợp đồng mua bán căn hộ cho Ông M nên đã vi phạm các quy định tại Điều 122, Điều 127, Điều 128 và Điều 410 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 22 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006; Điều 38, Điều 39 Luật Nhà ở năm 2005; điểm e khoản 3 Điều 9 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở. Do đó, hợp đồng mua bán căn hộ số: 70B/2011/HĐMBCH-VHP ngày 25/01/2011 và 04 Phụ lục hợp đồng gồm: Phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐ-VHP ngày 25/01/2011, Phụ lục hợp đồng số 02/PLHĐ-VHP ngày 25/01/2011, Phụ lục hợp đồng số 03/PLHĐ-VHP ngày 25/01/2011, Phụ lục hợp đồng số 04/PLHĐ-VHP ngày 25/01/2011 được ký kết giữa ông Đỗ Phước M và Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật.

Xét, Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP là chủ đầu tư dự án nhưng không tuân thủ các quy định của pháp luật trước khi ký hợp đồng bán căn hộ cho khách hàng nên Công ty hoàn toàn có lỗi trong việc làm cho hợp đồng bị vô hiệu. Căn cứ vào Phiếu thu số PT 01 ngày 21/01/2011 của Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP, đã có đủ cơ sở để xác định Ông M đã đóng cho Công ty tổng số tiền là 2.485.062.093 đồng (hai tỷ, bốn trăm tám mươi lăm triệu, không trăm sáu mươi hai ngàn, không trăm chín mươi ba đồng) nên Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP phải hoàn trả cho Ông M toàn bộ số tiền mà Ông M đã đóng theo quy định tại Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2005; Khoản 5 Điều 60 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở; Khoản 4 và Khoản 5 Điều 18 Mục 3 Thông tư số 16/2010/TT-BXD ngày 01/9/2010 của Bộ Xây dựng quy định cụ thể và hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở.

[3.2]. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về đòi tiền phạt do chậm trễ trong việc giao căn hộ là 372.759.300đ (ba trăm bảy mươi hai triệu, bảy trăm năm mươi chín ngàn, ba trăm đồng). Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu của nguyên đơn là tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ đối với phần yêu cầu đã rút theo quy định tại Khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng Dân sự.

[4]. Ý kiến phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ để chấp nhận.

[5]. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 81.701.242 đ (tám mươi mốt triệu, bảy trăm lẻ một ngàn, hai trăm bốn mươi hai đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 122, Điều 127, Điều 128; Điều 137 và Điều 410 Bộ luật Dân sự năm 2005;

Căn cứ vào các Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ vào Điều 22 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2006; Căn cứ vào các Điều 38, Điều 39 Luật Nhà ở năm 2005;

Căn cứ vào Luật phí và lệ phí;

Căn cứ vào điểm e khoản 3 Điều 9 và khoản 5 Điều 60 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở;

Căn cứ vào các khoản 4 và 5 Điều 18 Mục 3 Thông tư số 16/2010/TT-BXD ngày 01/9/2010 của Bộ xây dựng;

Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 180, Điều 207, khoản 2 Điều 227, Khoản 1và Khoản 3 Điều 228, Khoản 2 Điều 244, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào Điểm b Khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Đỗ Phước M. - Tuyên bố Hợp hợp đồng mua bán căn hộ số 70B/2011/HĐMBCH-VHP ngày 25/01/2011 và 04 Phụ lục hợp đồng gồm: Phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐ-VHP ngày 25/01/2011, Phụ lục hợp đồng số 02/PLHĐ-VHP ngày 25/01/2011, Phụ lục hợp đồng số 03/PLHĐ-VHP ngày 25/01/2011, Phụ lục hợp đồng số 04/PLHĐ-VHP ngày 25/01/2011 được ký kết giữa bên bán căn hộ là Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP và bên mua căn hộ là ông Đỗ Phước M để mua bán mua căn hộ A2- LA, Tầng 19 Thuộc dự án Chung cư Cao cấp Vạn Hưng Phát tọa lạc tại địa chỉ: 339 Bông Sao, Phường 5, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh là vô hiệu.

Buộc Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP thanh toán cho ông Đỗ Phước M số tiền là 2.485.062.093 đồng (hai tỷ, bốn trăm tám mươi lăm triệu, không trăm sáu mươi hai ngàn, không trăm chín mươi ba đồng) ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện về đòi tiền phạt do chậm trễ trong việc giao căn hộ là 372.759.300đ (ba trăm bảy mươi hai triệu, bảy trăm năm mươi chín ngàn, ba trăm đồng).

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP phải chịu là 81.701.242 đ (tám mươi mốt triệu, bảy trăm lẻ một ngàn, hai trăm bốn mươi hai đồng).

Ông Đỗ Phước M không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho Ông M 44.579.000đ (Bốn mươi bốn triệu, năm trăm bảy mươi chín ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự Ông M đã nộp theo biên lai thu số AA/2018/ 0019089 ngày 18/02/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Ông Đỗ Phước M, Công ty TNHH Thương mại - Xây dựng VHP có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho đương sự hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự; Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014); Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014).


30
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về