Bản án 13/2019/HS-ST ngày 29/01/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 13/2019/HS-ST NGÀY 29/01/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Trong ngày 29 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2019/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2019/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn D, giới tính: Nam; Sinh ngày 08 tháng 6 năm 1994 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số A Đường B, tổ 1, khu phố 3, phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá (học vấn): 3/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con bà Nguyễn Thị H, không rõ cha; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 11/9/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo bị giam giữ từ ngày 02/10/2018 và có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Ngô Lê K,

Địa chỉ: Số   Lã Xuân Oai, tổ 2, khu phố 2, phường A , Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Anh Lâm Văn E, sinh năm 1988 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp N C, xã O, thị xã K, tỉnh Hậu Giang.

2/ Anh Hồ Ngọc B, sinh năm 1995 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số 42 Đường U, khu phố L, phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 30/9/2018, Lâm Văn E điều khiển xe hiệu Honda Wave biển số 71H2-2448 chở Nguyễn Văn D đi từ Quận K về Quận H. Khi đến quán “Thiên Địa Sang” trên đường K, khu phố 3, phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, phát hiện bạn của D đánh nhau với một nhóm khác nên D và E dừng xe lại. D chạy vào can ngăn, lúc này trong nhóm có người la lên có Công an đến nên tất cả đều bỏ chạy. D chạy ra đường B thì phát hiện có xe Yamaha Mio biển số 54X2-4843 của chị Ngô Lê K để bên lề đường, chìa khóa vẫn cắm vào ổ khóa xe, không có người trông coi nên D đã chiếm đoạt xe. Trên đường đi D kiểm tra phát hiện trong cốp xe có một điện thoại di động hiệu Iphone 5S màu trắng, D lấy điện thoại bỏ vào túi quần rồi điều khiển xe về nhà tại Đồng Nai cất giấu. Ngày 01/10/2018, D mang điện thoại chiếm đoạt được đến tiệm game bắn cá trên đường số 3, phường G, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh bán cho Hồ Ngọc U với giá 200.000 đồng. Sau đó, D bị Công an phường G, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện bắt giữ.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 9, Nguyễn Văn D đã thừa nhận hành vi phạm tội như trên.

Đối với Lâm Văn E và Hồ Ngọc B do không biết việc Nguyễn Văn D chiếm đoạt xe và điện thoại như trên nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý hình sự.

Vật chứng vụ án:

-  01 xe Yamaha Mio biển số 54X2-4843;

-  01 điện thoại di động hiệu Iphone 5S màu trắng;

Theo Kết luận định giá tài sản số 162-2018/KL-ĐGTS ngày 23/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân Quận H, kết luận: Xe Yamaha Mio biển số 54X2-4843 có giá trị còn lại là 6.650.000 đồng và điện thoại di động hiệu Iphone 5S màu trắng có giá trị còn lại là 1.680.000 đồng. Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu hồi xe Yamaha Mio biển số 54X2-4843 và điện thoại di động hiệu Iphone 5S màu trắng trả lại cho bị hại.

-  01 xe hiệu Honda Wave biển số 71H2-2448. Qua xác minh xe thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị Ni (mẹ ruột của Nguyễn Văn D) nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà Ni.

Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu gì khác.

Tại Cáo trạng số: 18/CT-VKS ngày 16 tháng 01 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn D thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Văn Sang về tội trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại nên không gây ra thiệt hại. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Sang từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù.

Về dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu hồi xe Yamaha Mio biển số 54X2-4843 và điện thoại di động hiệu Iphone 5S màu trắng trả lại cho bị hại là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Bị cáo nhận thấy được hành vi của mình là sai trái xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét, lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản thực nghiệm điều tra; Biên bản ghi lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận H; Bản tự khai của bị cáo; Lời khai của người bị hại, người làm chứng; Tang vật thu giữ; Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân Quận H và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 30/9/2018 tại đường Bưng Ông Thoàn, khu phố 3, phường B, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn D đã có hành vi lén lút chiếm đoạt một chiếc xe Yamaha Mio biển số 54X2-4843 có giá trị còn lại là 6.650.000 đồng và điện thoại di động hiệu Iphone 5S màu trắng có giá trị còn lại là 1.680.000 đồng của chị Ngô Lê Huyền K, tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 8.830.000 đồng. Hành vi của Nguyễn Văn D đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét, hành vi phạm tội do Nguyễn Văn D gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội củ a mình đã gây ra. Bị cáo đã từng bị xử phạt tù có thời hạn về tội trộm cắp tài sản nên bị cáo biết rất rõ việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình phạm tội. Điều đó chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật, khi có điều kiện thì bị cáo tiếp tục thực hành vi phạm tội nên cần phải có hình phạt nghiêm minh tương xứng với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho bị hại. Do đó, áp dụng các tình tiết quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt lẽ ra bị cáo phải chịu.

Đối với Lâm Văn E và Hồ Ngọc B do không biết việc Nguyễn Văn D chiếm đoạt xe và điện thoại như trên nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý hình sự là có căn cứ chấp nhận.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu khác nên Hội đồng xét xử không xét.

[4] Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra thu hồi xe Yamaha Mio biển số 54X2-4843 và điện thoại di động hiệu Iphone 5S trả lại cho người bị hại có căn cứ chấp nhận.

[5] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Nguyễn Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 50 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt Nguyễn Văn D 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/10/2018.

3. Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo. Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.


77
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 13/2019/HS-ST ngày 29/01/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:13/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận 9 (cũ) - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:29/01/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về