Bản án 13/2019/HSST ngày 21/02/2019 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH

BẢN ÁN 13/2019/HSST NGÀY 21/02/2019 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 21 tháng 02 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 09/2019/HSST ngày 25/01/2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2019 QĐXXST-HS ngày 10/2/2019 đối đối với bị cáo:

Mai Hoàng Việt A (tên gọi khác Cu Trắng) Sinh ngày 20 tháng 11 năm 1991.

HKTT: Tổ 15, phường Đ, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.

Chỗ ở: Tổ 12 phường Đ, thành phố H, tỉnh Hòa Bình

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hoá: 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Con ông : Mai Văn T- SN 1967 (đã chết) và bà: Hoàng Thị V - Sn 1974, Vợ, con: chưa có; bị cáo là con duy nhất trong gia đình

Tiền sự: Không

Tiền án: có 02 tiền án

Ngày 26/5/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 BLHS 1999. Thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2010

Ngày 24/6/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình xử 42 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tại khoản 1 Điều 194 BLHS; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999. Thời hạn tù tính từ ngày 11/3/2014.

Bị cáo bị bắt giữ từ ngày 02/10/2018 đến ngày 11/10/2018, hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, nay có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

Chị: Nguyễn Thị H; sinh năm 1996

Trú tại: Khu 11, Yến Mao, Thanh Thủy, Phú Thọ

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Xuân Tr, sinh năm 1996

Trú tại: Khu 11, xã Y, huyện Th, Phú Thọ

2- Ông Trần Văn H, sinh năm 1971 (vắng mặt)

Trú tại: Tổ 3, phường Đ, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ h00’ ngày 01/10/2018 anh Nguyễn Xuân Tr điều khiển xe mô tô HonDa Wave BKS 19L1-225.63 đến nhà Mai Hoàng Việt A tại tổ 12 phường Đồng Tiến để chơi. Khi Trường đến nơi Việt A xin Trường 200.000đồng để đi mua hoa quả và thuốc lá, đồng thời mượn xe của Trường để đi mua, Trường đồng ý, đưa tiền và giao xe cho Việt Anh. Sau khi đi mua hoa quả đến tại khu vực ngõ Gốc Gạo thuộc phường Đồng Tiến, do đang cần tiền để trả nợ, Mai Hoàng Việt A nảy sinh ý lấy chiếc xe mô tô của Trường mang đến nhà ông Trần Văn Hậu đặt vấn đề cầm cố chiếc xe lấy 4.000.000đồng (Bốn triệu đồng). Khi đặt vấn đề cầm xe mô tô Việt A nói với ông Hậu là xe của mình nên ông Hậu đồng ý cho Việt Anh cầm cố. Số tiền có được sau khi cầm cố chiếc xe, Mai Hoàng Việt A đã chi tiêu cá nhân hết. Đến khoảng 20 giờ Việt Anh về nhà và gặp anh Trường, Việt A nói dối với anh Tr là bị Công an phường Đồng Tiến thu giữ xe. Ngày 02/10/2018 Nguyễn Xuân Trường đến cơ quan Công an trình báo. Cùng Ngày Mai Hoàng Việt Anh ra đầu thú.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 112/HĐ-ĐGTS ngày 03/10/2018 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: trị giá chiếc xe mô tô, nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu sơn xanh- đen- bạc, số máy JA39E0594660 số khung RLHJA 3906HY619513, BKS19L1-225.63 đã qua sử dụng. Giá trị tài sản là 16.011.000đồng (Mười sáu triệu, không trăm, mười một ngàn đồng)

Cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 08/01/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình truy tố Mai Hoàng Việt A về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, theo điểm g khoản 2 điều 175 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện VKS thành phố Hòa Bình trong phần luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Mai Hoàng Việt A về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 175, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt Mai Hoàng Việt Anh từ 30-36 tháng tù.

- Vật chứng: Tịch thu xung công quỹ Nhà nước số tiền 4.000.000đồng tiền thu lời bất chính của Mai Hoàng Việt Anh

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quyết định t tụng của cơ quan điều tra, cơ quan truy t, về hành vi t tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Đã tuân thủ đúng, đầy đủ các quy định của BLTTHS. Đảm bảo đúng quy định pháp luật, bị cáo không có khiếu nại gì đối với cơ quan điều tra, truy tố, điều tra viên, kiểm sát viên.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Tại phiên toà bị cáo Mai Hoàng Việt A đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với cáo trạng, cùng các chứng cứ khác phản ánh trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận:

Do có mối quan hệ anh em với anh Nguyễn Xuân Tr. Khoảng 17 giờ ngày 01/10/2018 Anh Nguyễn Xuân Trường điều khiển xe mô tô honda BKS 19L1-225.63 đến nhà Mai Hoàng Việt A chơi. Khi anh Tr đến nơi Mai Hoàng Việt A xin anh Tr 200.000đồng và hỏi mượn xe mô tô của anh Tr để đi mua hoa quả. Khi đến khu Gốc Gạo thuộc phường Đồng T, Mai Hoàng Việt A nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô của anh Tr và đã mang chiếc xe mô tô đến nhà ông Trần Văn H cầm cố được 4.000.000đ (Bốn triệu đồng).

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an địa phương. Lợi dụng lòng tin của anh Nguyễn Văn Tr, được anh Tr giao xe cho bị cáo đi mua hoa quả. Bị cáo đã mang chiếc xe mô tô của anh Tr đi cầm cố lấy tiền chi tiêu cá nhân. Chiếc xe mô tô HonDa Wave BKS 19L1-225.63 mà bị cáo mang đi cầm cố trị giá 16.011.000đồng (Mười sáu triệu không trăm mười một ngàn đồng). Như vậy hành vi phạm tội của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Bị cáo có 02 tiền án, ngày 26/5/2010, Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999. Thời hạn tù tính từ ngày 18/01/2010

Ngày 24/6/2014, Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình xử 42 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy tại khoản 1 Điều 194 BLHS; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999. Thời hạn tù tính từ ngày 11/3/2014.

Như vậy hành vi phạm tội lần này của bị cáo đã phạm vào điểm g khoản 2 điều 175 BLHS như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2] Về tình tiết tăng nặng: không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[2.3] Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đến cơ quan Công an đầu thú, tài sản đã được thu hồi trả cho người bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS năm 2015.

[2.4] Vật chứng vụ án: Chiếc xe motoo nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu xanh- đen- bạc số máy JA39E0594660, số khung RLHJA 3906HY619513 BKS 19L1-225.63 đã trả cho chủ hợp pháp là chị Nguyễn Thị Hằng (vợ anh Nguyễn Xuân Trường). Chị H, anh Tr không yêu cầu gì thêm nên tòa không xét.

Áp dụng Điều 47 BLHS tịch thu số tiền 4.000.000 đồng thu lời bất chính của Mai Hoàng Việt Anh để xung công quỹ Nhà Nước.

[3] Về TNDS: Chị Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Xuân Tr, ông Trần Văn H không đề nghị gì nên Tòa không xét.

[4] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.y

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điểm g khoản 2 Điều 175, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38BLHS Điều 135 331, 333 BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH, áp dụng đối với Mai Hoàng Việt Anh

- Tuyên bố: bị cáo Mai Hoàng Việt A phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”

- Xử phạt: Mai Hoàng Việt A 30 (Ba mươi) tháng tù, được trừ 10 ngày tạm giữ, còn lại bị cáo phải chấp hành 29 (hai mươi chín) tháng 20 (hai mươi) ngày.Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

Vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS tịch thu số tiền 4.000.000 (bốn triệu) đồng. Tiền thu lời bất chính của Mai Hoàng Việt A để xung công quỹ Nhà Nước.

- Về án phí: bị cáo Mai Hoàng Việt A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.


18
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 13/2019/HSST ngày 21/02/2019 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:13/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Hòa Bình - Hoà Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:21/02/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về