Bản án 13/2019/HS-ST ngày 10/10/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG YANG - TỈNH GIA LAI

BẢN ÁN 13/2019/HS-ST NGÀY 10/10/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 10 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2019/TLST-HS, ngày 14 tháng 08 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2019/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 09 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn N, (tên gọi khác: N B) sinh ngày 22/3/1991tại tỉnh Hưng Yên. Nơi thường trú: TDP 6, thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam;quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân B (SN: 1968)và bà Nguyễn Thị N(SN: 1971); bị cáo chưa có vợ; tiền án: Không, Tiền sự: có 01 tiền sự; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/5/2019 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Ông Nguyễn Minh V-sinh năm: 1986

Trú tại: Làng B, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Minh Đ-Sinh năm 1996.

Trú tại: Thôn H 1, xã K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

*Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Thu S-Sinh năm 1988.

Trú tại: Làng B, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 27/5/2019 Nguyễn Văn N (Sinh năm 1991; Trú tại tổ dân phố 6, thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai) mượn xe mô tô Yamaha Novo Lx biển kiểm soát 81E1-026.01 của ông Nguyễn Tấn Đ (Sinh năm 1987; Trú tại tổ dân phố 1, thị trấn K, huyện M, tỉnh Gia Lai) đi vào làng Bông Pim, xã Đăk Jơta, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai để đòi nợ. Khi đi qua nhà ông Nguyễn Minh V (Sinh năm 1986; Trú tại làng B, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai) thì Nguyễn Văn N phát hiện không có ai ở nhà, trước hiên nhà có để 03 chiếc máy cắt cỏ và 01 chiếc máy khoan đất nên N nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của anh V. N điều khiển xe mô tô vào trước sân nhà ông V rồi lén lút trộm cắp 01 chiếc máy khoan đất hiệu HUSQVARNA gắn kèm mũi khoan đặt lên xe mô tô. Sau đó Nam điều khiển xe mô tô BKS 81E1-026.01 chở chiếc máy khoan đất đến cửa hàng Minh Đăng (do Trần Minh Đ làm chủ, thuộc thôn Hà Lòng I, xã K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai) bán được 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm nghìn đồng) sau đó điều khiển xe mô tô về trả cho ông Đạt và đón xe ô tô khách đến huyện Đ, tỉnh Gia Lai tiêu xài hết số tiền bán chiếc máy khoan đất. Đến 14 giờ ngày 28/5/2019 Nguyễn Văn N đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Ti Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 10 ngày 29/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện M kết luận: 01 chiếc máy khoan đất hiệu HUSQVARNA và 01 mũi khoan có trị giá tại thời điểm hiện tại là 3.200.000 đồng.

* Về vật chứng vụ án:

- 01 chiếc máy khoan đất hiệu HUSQVARNA và 01 mũi khoan đã qua sử dụng. Ngày 03/7/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả cho chủ sở hữu

- Đối với xe mô tô biển kiểm soát 81E1-026.01, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M xác minh làm rõ nguồn gốc xe thuộc quyền sở hữu của ông Nguyễn Tấn Đ, ông Đ không biết bị cáo N mượn xe để đi trộm cắp. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã trả lại chiếc xe mô tô cho ông Đ.

* Về phần dân sự: Sau khi nhận lại tài sản bị hại Nguyễn Minh V không yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn N phải bồi thường về mặt trách nhiệm dân sự.

Ông Trần Minh Đ yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn N bồi thường số tiền 1.200.000 đồng mua chiếc máy khoan đất. Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn N đã tác động gia đình bồi thường số tiền 1.200.000 đồng cho ông Đ, ông Đ đã nhận đủ số tiền và không có yêu cầu gì thêm.

Tại Cáo trạng số 11/CT-VKS, ngày 13 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà Đại diện viện sát huyện Mang Yang đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N mức hình phạt từ 06 đến 09 tháng tù.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Ý kiến của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng là đúng. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện M, tỉnh Gia Lai, Điều tra viên. Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện M, tỉnh Gia Lai, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, vì vậy có đủ cơ sở xác định hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Xuất phát từ mục đích muốn có tiền tiêu xài Khoảng 13 giờ ngày 27/5/2019 lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản tại nhà ông Nguyễn Minh V thuộc làng Bông Pim, xã Đăk Jơta, huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai, Nguyễn Văn N đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp 01 máy khoan đất hiệu Husqvarna và 01 mũi khoan của ông Nguyễn Minh Vương, có giá trị 3.200.000 đồng.

Hành vi đó của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác và làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đã vi phạm pháp luật hình sự nên phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự : Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả. Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, thiệt hại không lớn. Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo đầu thú quy định tại các điểm b, h, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Xét về nhân thân,tính chất, mức độ phạm tội và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo Nguyễn Văn N đã có những hành vi như sau: Vào ngày 06/01/2009 bị Công an huyện Mang Yang xử phạt hành chính về hành vi “Say rượu, gây mất trật tự công cộng”.Ngày 24/3/2010 bị Công an huyện Mang Yang xử phạt hành chính về hành vi “Cầm cố tài sản người khác mà tài sản đó không có giấy tờ sở hữu”.Ngày 06/11/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Pleiku ra quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 21 tháng. Đến ngày 30/01/2019 chấp hành xong về địa phương sinh sống. Nên Hội đồng xét xử coi đây là nhân thân xấu để xem xét khi lượng hình đối với bị cáo có đủ mức giáo dục phòng ngừa chung.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Không ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng:

01 chiếc máy khoan đất hiệu HUSQVARNA và 01 mũi khoan đã qua sử dụng. Ngày 03/7/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Yang đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trao trả cho chủ sở hữu là đúng. Hội đồng xét xử không xem xét.

01 (một) xe mô tô BKS 81E1-119.53 đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Yang trả lại cho chủ sở hữu là đúng vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[09] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Tội danh và hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, h, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51của Bộ luật hình sự ;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 07 (bảy ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/5/2019.

2. Án phí: Căn cứ vào Điểm a khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Thời hạn kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (10/ 10/2019) bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án tỉnh Gia Lai để xét xử phúc thẩm. Thời hạn trên đối với người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên đến vụ án kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án đươc niêm yết tại UBND xã, phường nơi người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án cư trú.


68
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 13/2019/HS-ST ngày 10/10/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:13/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mang Yang - Gia Lai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 10/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về