Bản án 13/2019/HNGĐ-ST ngày 23/05/2019 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN

BẢN ÁN 13/2019/HNGĐ-ST NGÀY 23/05/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 23 tháng 5 năm 2019 tại phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 681/2018/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2018 về việc tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/4/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị Ch, sinh năm 1975 (có mặt)

Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1976 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ:Khu phố 1, phường Đ, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn là bà Trần Thị Ch trình bày: bà và ông Nguyễn Ngọc Q tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ vào năm 1996. Sau khi kết hôn vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình không hợp, ông Q thường xuyên cờ bạc, ham mê cá độ, không lo làm ăn, không quan tâm chăm sóc gia đình dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Không giải quyết được mâu thuẫn nên bà có nộp đơn ly hôn nhưng vì nghĩ đến các con nên vẫn chưa dứt khoát được. Kể từ năm 2013 cho đến nay cả hai đã sống ly thân, bà bỏ vào Đồng Nai sinh sống, làm ăn và cả hai không còn quan tâm gì đến nhau. Nay tình cảm không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Q.

Về con chung: có 03 người con là Nguyễn Nữ Anh Tr, sinh năm 1995, Nguyễn Nữ Anh T, sinh ngày 21/8/2004 và Nguyễn Trần Anh T, sinh ngày 06/6/2006; cháu Tr đã trên 18 tuổi, có gia đình riêng. Bà có nguyện vọng xin được nuôi dưỡng 02 con chưa thành niên và không yêu cầu ông Q phải cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên tòa, bà Ch cho biết 02 cháu Tr và Tr hiện đang sống cùng với ông Q, hàng tháng bà đều gửi tiền về cho con ăn học và các con cũng quen thuộc với cuộc sống và học hành ở đây nên bà rút yêu cầu tranh chấp về nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Phan rang – Tháp chàm phát biểu: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án, việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, việc cấp, tống đạt các giấy tờ cho Viện Kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự; Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; người tham gia tố tụng là nguyên đơn được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn vắng mặt và Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng pháp luật.

Quan điểm của Viện kiểm sát cho rằng hôn nhân giữa bà Ch và ông Q đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Ch được ly hôn với ông Q. Về con chung, tài sản chung không yêu cầu nên không giải quyết.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Về thủ tục tố tụng:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

- Sự vắng mặt của đương sự: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các Thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và 02 lần Thông báo hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Q vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

- Quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” bị đơn cư trú tại phường Đ, thành phố Phan rang – Tháp chàm, tỉnh Ninh Thuận nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan rang – Tháp chàm theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.

- Tại phiên tòa, nguyên đơn rút yêu cầu tranh chấp về nuôi con chung. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 217; khoản 2 điều 244 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu tranh chấp nuôi con của bà Ch.

Về nội dung:

[1] Quan hệ hôn nhân: giữa bà Ch và ông Q chung sống hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống. Theo cung cấp của Chính quyền địa phương nơi cư trú thì “ông Q, bà Ch thường xảy ra cãi vả, xích mích, đã sống ly thân hơn 06 năm và không còn quan tâm chăm sóc gì đến nhau”. Đồng thời, trong thời gian sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay ông Q, bà Ch đã không còn sum họp, dung hòa được cuộc sống chung và cũng không có sự quan tâm, chia sẻ, gắn bó lẫn nhau. Hơn nữa, ông Q biết việc ly hôn nhưng cũng không có mặt để được Tòa án hòa giải, chứng tỏ ông đã bỏ mặc hôn nhân. Xét tình trạng hôn nhân giữa bà Ch và ông Q đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cả hai đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

Xét quan điểm của Viện kiểm sát và yêu cầu của nguyên đơn về quan hệ hôn nhân đều có căn cứ phù hợp điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 điều 147 của BLTTDS năm 2015; điểm a khoản 5 điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (về hôn nhân) không có giá ngạch.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 điều 147; điểm c khoản 1 điều 217, khoản 2 điều 244; điểm b khoản 2 điều 227, khoản 3 điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Trần Thị Ch đối với bị đơn là ông Nguyễn Ngọc Q.

Về hôn nhân: bà Trần Thị Ch được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc Q.

Về con chung: Đình chỉ giải quyết yêu cầu tranh chấp về nuôi con của nguyên đơn là bà Trần Thị Ch; các đương sự được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại tranh chấp về nuôi con bằng một vụ án khác.

Về án phí: bà Trần Thị Ch phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn), nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0017758 ngày 11/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Phan rang – Tháp chàm. Bà Ch đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm.

Án sơ thẩm xử công khai có mặt nguyên đơn - quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (23/5/2019); vắng mặt bị đơn - quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.


48
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 13/2019/HNGĐ-ST ngày 23/05/2019 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:13/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phan Rang Tháp Chàm - Ninh Thuận
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:23/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về