Bản án 13/2019/DS-ST ngày 14/10/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU – TỈNH NGHỆ AN

BẢN ÁN 13/2019/DS-ST NGÀY 14/10/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Trong ngày 14 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 21/2019/TLST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2019 về “tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 170/2019/QĐST-DS ngày 24 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S – Đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng giám đốc.

Đa chỉ: 266-268 N, phường 8, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo ủy quyền: ông Bành Trọng N, chức vụ: Giám đốc phòng giao dịch D, theo giấy ủy quyền số 910/2018/GUQ-CNNA ngày 26/12/2018. (có mặt).

Đa chỉ: khối 4, thị trấn D, huyện D, Nghệ An

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thế T, sinh năm 1981

Trú tại: khối 6, thị trấn D, Nghệ An (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 09 tháng 01 năm 2019, được bổ sung tại bản tự khai và qua trình giải quyết tại Tòa án nguyên đơn trình bày: Ngày 24/4/2015 khách hàng Nguyễn Thế T có hợp đồng tín dụng với Ngân hàng TMCP S – Chi Nhánh Nghệ An – Phòng giao dịch D, chi tiết như sau: Số Hợp đồng tín dụng: LD 1511400133 ngày 24/4/2015: Số tiền vay 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Thời hạn vay 48 tháng, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất 1%/tháng, trả lãi và gốc hàng tháng. Thời điểm trả hết nợ ngày 16/06/2017. Biện pháp bảo đảm tín chấp. Trong quá trình vay, từ ngày giải ngân đến nay khách hàng Nguyễn Thế T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền gốc/lãi 47.355.000 đồng (Trong đó gốc 36.480.000đồng và lãi 10.875.000đồng. Trong quá trình trả nợ khách hàng thường xuyên trả trễ hạn. Ngân hàng đã làm việc, thông báo nhắc nhở nhưng khách hàng vẫn không có thiện chí trả nợ. Do khách hàng Nguyễn Thế T vi phạm nghĩa vụ trả nợ nghiêm trọng ngày 27/10/2017 Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh Nghệ an – Phòng giao dịch D đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 28/8/2019 khách hàng Nguyễn Thế T còn nợ số tiền gốc là 13.520.000đồng, tiền lãi và lãi quá hạn 8.458.837đồng (tổng cả gốc và lãi là 21.978.837đồng). Nay đề nghị Tòa án nhân dân huyện D buộc anh Nguyễn Thế T phải thanh toán toàn bộ khoản nợ trên.

Phát biểu ý kiến tại phiên tòa, Kiểm sát viên đánh giá trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tiến hành đúng, đầy đủ quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Thẩm phán đảm bảo thời hạn xét xử, bị đơn anh Nguyễn Thế T không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án mặc dù đã được tống đạt hợp lệ. Về nội dung: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương Mại Cổ phần S buộc anh Nguyễn Thế T phải trả nợ cho Ngân hàng tiền vay gốc 13.520.000đ; Tiền lãi trong hạn 7.125.000đ, lãi quá hạn 3.777.150đ. Tổng cộng cả gốc và lãi là 24.422.150đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về thủ tục tố tụng: anh Nguyễn Thế T bị đơn trong vụ án cố tình vắng mặt, Tòa án đã tiến hành niêm yết các giấy tờ tố tụng theo quy định của pháp luật. Đây là phiên tòa lần thứ hai nhưng anh T vẫn vắng mặt. Theo quy định tại Điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Thế T.

[2]. Về nội dung vụ án: Theo hợp đồng tín dụng do Ngân hàng TMCP S cung cấp: ngày 24/4/2015 Ngân hàng TMCP S và ông Nguyễn Thế T ký kết hợp đồng tín dụng chi tiết như sau: Hợp đồng tín dụng số LD 1511400133 ngày 24/4/2015. Số tiền vay 50.000.000đ, số tiền thực tế giải ngân 50.000.000đ. Thời hạn 48 tháng, phương thức vay trung – dài hạn. Mục đích vay tiêu dùng, lãi suất trong hạn là 0,75%/1 tháng; Lãi suất quá hạn 150%.

Như vậy tính đến ngày 14/10/2019, anh Nguyễn Thế T còn nợ Ngân hàng TMCP S các khoản sau: vốn 13.520.000đ.

Lãi suất trong hạn: 7.125.000đ. Lãi suất quá hạn: 3.777.150đ Tổng cộng 24.422.150đồng Vì vậy cần áp dụng các Điều 463, 466, 470 Bộ luật dân sự buộc anh Nguyễn Thế T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S, phòng giao dịch D số tiền gốc của hợp đồng tín dụng là 13.520.000đ (Mười ba triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng) và tiền lãi là 10.902.150đ (Mười triệu chín trăm linh hai nghìn một trăm năm mươi đồng).

Như vậy tổng cả gốc và lãi anh Nguyễn Thế T phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền là 13.520.000đ + 10.902.150đ = 24.422.150đ (Hai mươi bốn triệu bốn trăm hai mươi hai nghìn đồng một trăm năm mươi đồng).

[3] Án phí: Anh Nguyễn Thế T phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dông điều 91, điều 95 Luật các tổ chức tín dụng và các Điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự năm 2015, xử.

1. Buộc anh Nguyễn Thế T phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền nợ gốc là 13.520.000đ, tiền lãi suất 10.902.150đ Tổng cả gốc và lãi là 24.422.150đ ( Hai mươi bốn triệu bốn trăm hai mươi hai nghìn một trăm năm mươi đồng).

2. Về lãi suất kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm anh Nguyễn Thế T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất hai bên thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa anh và Ngân hàng TMCP S – Phòng giao dịch D. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh của Ngân hàng cho vay.

3. Án Phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14. Buộc anh Nguyễn Thế T phải nộp 1.221.000đ (Một triệu hai trăm hai mươi mốt nghìn đồng),án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền 475.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện D theo biên lai thu tiền số 0004602 ngày 12/4/2019.

Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên Toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đi với bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn trên kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.


27
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 13/2019/DS-ST ngày 14/10/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

    Số hiệu:13/2019/DS-ST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Diễn Châu - Nghệ An
    Lĩnh vực:Dân sự
    Ngày ban hành:14/10/2019
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về