Bản án 13/2018/HNGĐ-ST ngày 26/07/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 13/2018/HNGĐ-ST NGÀY 26/07/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 26/7/2018, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 33/2017/TLST – HNGĐ ngày 26tháng 10 năm 2017 về  việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 475/2018/QĐXXST-DS ngày 12/7/2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị H

Địa chỉ: Thôn Trung H, xã Hải T, huyện Bố T, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

- Bị đơn: Anh Phan Công T

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn Trung H, xã Hải T, huyện Bố T, tỉnh Quảng Bình.

Hiện đang cư trú tại 7Petide Rd North yort M3n 2B3 Toronto (Canada). Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn đề ngày 25/9/2017 và tại các bản tự khai, chị Đặng Thị H trình bày:

Vợ chồng chị Đặng Thị H và anh Phan Công T yêu nhau và tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 09/7/2012 tại UBND xã Hải T, huyện Bố T, tỉnh Quảng Bình.

Hai vợ chồng chung sống với nhau được một năm. Đến năm 2013 anh T đi ra nước ngoài để làm ăn. Sau khi ra nước ngoài, anh T thay đổi tình cảm, không tin tức gì với vợ con nữa. Bản thân chị ở nhà nuôi con vất vả nhưng không nhận được sựđộng viên tinh thần lẫn vật chất từ anh T. Đến nay, chị H thấy không còn tình cảm với anh T nữa nên chị làm đơn khởi kiện đến Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng chị H có chung với nhau một người con tên là Phan Công N, sinh ngày 06/4/2013. Nguyện vọng của chị sau khi ly hôn được quyền nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng chị H không có tài sản chung nên không đề nghịToà án xem xét giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành thực hiện uỷ thác tư pháp cho cơ quan có thẩm quyền vào ngày 20/11/2017 theo khoản 4 Điều 105, khoản 1 Điều 474 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Ngày 16/7/2018, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã nhận được bản tự khai của anh Phan Công T có dấu xác nhận của Đại sứ quán nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Ôt – ta – oa – Ca – na – da trình bày ý kiến của mình về việc giải quyết vụ án ly hôn với chị Đặng Thị H.

Tại bản tự khai ngày 18/6/2018 anh T trình bày: Anh T và chị H tìm hiểu và tự nguyện kết hôn, có đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam vào ngày 09/7/2012. Sau khi kết hôn, vợ chồng có cuộc sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn vì tính cách, quan điểm sống không hoà hợp, thiếu tin tưởng và quan tâm nhau. Sau đó, vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên tháng 6/2013 anh T đi xuất khẩu lao động ở Canada để kiếm thêm thu nhập. Từ đó đến nay vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Ở Việt Nam, chị H đã làm đơn khởi kiện đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình cho ly hôn. Vì vậy, anh T cũng đồng ý ly hôn để mỗi bên được ổn định cuộc sống riêng. Về con chung: Anh T và chị H có một con chung là Phan Công N sinh ngày 06/4/2013. Anh T đồng ý cho chị Hà chăm sóc, nuôi dưỡng con. Anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng. Về tài sản chung: vợ chồng anh T, chị H không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Ngoài ra, anh T có đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử vắng mặt anh vì anh ở xa nên không có điều kiện để vềtham gia phiên toà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình phát biểu ý kiến:

Trong quá trình giải quyết vụ án việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ,đương sự tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định, đảm bảo quyền lợi nghĩa vụ của họ. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị H, xử cho chị Đặng Thị H được ly hôn vắng mặt anh Phan Công T theo quy định tại khoản 1 Điều 474, khoản 5 Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; về con chung: Anh T và chị H có một con chung là Phan Công N sinh ngày 06/4/2013. Chấp nhận cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng con. Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng; về tài sản chung: vợ chồng không có nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tại phiên tòa nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, Hội đồng xét xử sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ đã được xuất trình, sau khi nghe thẩm vấn tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm thấy rằng:

[1].Về tố tụng: Bị đơn Phan Công T là công dân Việt Nam hiện đang cư trú tại nước ngoài. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành các phương thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài theo quy định tại Điều 105, Điều 474 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Tại bản tự khai ngày 18/6/2018, anh T cũng đã đề nghị Toà án xét xử vắng mặt anh. Căn cứ khoản 3 Điều 474, khoản 5 Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Phan Công T.

[2].Về nội dung:

Tại phiên toà, chị Đặng Thị H vẫn giữ nguyên đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn với anh Phan Công T. Xét thấy, chị H và anh T quen biết nhau trên cơ sở tự nguyện và đi đến kết hôn, đã đăng ký ở cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam vào ngày 09/7/2012. Hai vợ chồng chung sống với nhau được một năm thì anh T đi ra nước ngoài để làm ăn. Sau khi ra nước ngoài, anh T thay đổi tình cảm, không tin tức gì với vợ con nữa. Bản thân chị ở nhà nuôi con vất vả nhưng không nhận được sự động viên tinh thần lẫn vật chất từ anh T. Đến nay, chị H thấy không còn tình cảm với anh T nữa nên chị làm đơn khởi kiện đến Toà án nhân dân tỉnh QuảngBình đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn để chị tiếp tục ổn định cuộc sống cho riêng mình.

Đối với anh Phan Công T, bản thân anh cũng đã thừa nhận tình cảm giữa hai vợ chồng không còn hạnh phúc vì tính cách không hoà hợp, hai vợ chồng ở xa nên thiếu tin tưởng, quan tâm lẫn nhau. Anh chấp nhận được ly hôn với chị H.

Hội đồng xét xử thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị H có nguyện vọng xin ly hôn là phù hợp nên cần chấp nhận cho chị Đặng Thị H được ly hôn với anh Phan Công T là có cơ sở.

- Về quan hệ con chung: Vợ chồng chị H có chung với nhau một người con tên là Phan Công N, sinh ngày 06/4/2013. Chấp nhận nguyện vọng của chị H sau khi ly hôn được quyền nuôi con. Chấp nhận ý kiến của anh T đồng ý cấp dưỡng cho con mỗi tháng 3.000.000 đồng.

- Về tài sản chung: Vợ chồng chị Đặng Thị H và anh Phan Công T không có tài sản chung không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

- Về án phí: Chị Đặng Thị H phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn và lệ phí uỷ thác tư pháp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 474, 477 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

1. Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Đặng Thị H và anh Phan Công T được ly hôn.

2. Về quan hệ con chung: chấp nhận cho chị H sau khi ly hôn được quyền nuôi con là Phan Công N, sinh ngày 06/4/2013. Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con mỗi tháng 3.000.000 đồng.

3. Về tài sản chung: Vợ chồng chị Đặng Thị H và anh Phan Công T không có tài sản chung không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. 

4. Về án phí: Áp dụng Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội buộc chị Đặng Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm ly hôn. Khấu trừ số tiền 300.000 đồng chị Đặng Thị H đã nộp án phí sơ thẩm theo Biên lai số AA/2017/0005036 ngày 23/10/2017 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình.

Án sơ thẩm xử công khai, chị Đặng Thị H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Đặng Công T có quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án.


60
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 13/2018/HNGĐ-ST ngày 26/07/2018 về ly hôn

Số hiệu:13/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quảng Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:26/07/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về