Bản án 13/2018/HNGĐ-ST ngày 06/03/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DK - TỈNH KH

BẢN ÁN 13/2018/HNGĐ-ST NGÀY 06/03/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 06 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện DK xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 341/2017/TLST-HNGĐ ngày 04/10/2017 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2018/QĐST-HNGĐ ngày 25/01/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2018/QĐST-HNGĐ  ngày09/02/2018 giữa các đương sự:

1. Ngu yên đơn : Ông TR - sinh năm 1969

Địa chỉ: Thôn Xuân TR, xã Diên Xuân, huyện DK, tỉnh KH.

Ông TR có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn : Bà TH - sinh năm 1968

Địa chỉ: Thôn Xuân TR, xã Diên Xuân, huyện DK, tỉnh KH.

Bà TH vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 02/8/2017, bản tự khai ngày 01/11/2017 và quá trình giải vụ án, nguyên đơn ông TR trình bày: ông và bà TH tự nguyện yêu thương nhau, chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 1996, đến năm 2002 mới đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã Diên Xuân theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 48/2002 ngày 23/12/2002. Giai đoạn đầu cuộc sống hôn nhân giữa vợ chồng hạnh phúc. Khoảng thời gian sau vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do cả hai bất đồng về mọi mặt trong cuộc sống vợ chồng, không có sự đồng cảm, chia sẻ, chăm sóc, quan tâm đến nhau, dẫn đến kình cãi thường xuyên, gây tổn thương cho nhau, tình cảm giữa vợ chồng ngày càng áp lực, cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Cả hai đã nhiều lần tạo cơ hội cho nhau nhưng vẫn không thể hòa hợp, vì đã mất sự tin tưởng với nhau, khoảng cách giữa vợ chồng ngày càng lớn, nên cả hai đã không còn chung sống với nhau đã được 05 năm. Ông xác định không còn tình cảm yêu thương, quan tâm chăm sóc đến bà TH nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà TH.

Về con chung: ông và bà TH có 01 con chung là Đặng Xuân T - sinh năm 1996, đã trưởng thành nên ông không yêu cầu gì.

Về tài sản chung và nợ chung: ông xác định giữa ông và bà TH không có tài sản chung và nợ chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mời bà TH đến Tòa án làm việc, nhưng bà TH vẫn cố tình vắng mặt. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản, giấy tờ tài liệu cần thiết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, nguyên đơn ông TR vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với bà TH; về con chung: đã trưởng thành nên không có yêu cầu gì; tài sản chung và nợ chung: không có. Bị đơn bà TH vắng mặt lần thứ hai, không có lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện DK - KH phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ trình tự thủ tục tố tụng. Bị đơn vi phạm khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông TR xin ly hôn với bà TH. Về  conchung: đã trưởng thành. Về án phí: Ông TR phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về th ủ tụ c tố tụ ng : Bà TH đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn bà TH.

[2]. Về qu an hệ h ôn n hân : Ông TR và bà TH tự nguyện yêu thương nhau về sống chung với nhau từ năm 1996, đến năm 2002 mới đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã Diên Xuân, đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 48/2002 ngày 23/12/2002 theo quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân theo ông TR là do cả hai bất đồng về mọi mặt trong cuộc sống vợ chồng, mối quan hệ sinh lý giữa vợ chồng không hòa hợp, không có sự đồng cảm, chia sẻ, chăm sóc, quan tâm đến nhau, thường xuyên kình cãi, gây tổn thương cho nhau, tình cảm giữa vợ chồng ngày càng áp lực, cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Ông TR và bà TH ngày càng có những khoảng cách càng lớn vì đã mất sự tin tưởng với nhau, nên cả hai không còn chung sống với nhau đã được 05 năm. Do đó, ông TR không còn tình cảm với bà TH. Bà TH đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng bà TH không đến Tòa án làm việc. Điều này chứng tỏ, bà TH không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này nên cho thấy hôn nhân giữa ông TR và bà TH đã có mâu thuẫn dẫn đến gia đình không có hạnh phúc, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể khắc phục, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của ông TR được ly hôn với bà TH.

[3]. Về con chung : vợ chồng ông TR và bà TH có 01 con chung Đặng Xuân T - sinh năm 1996, đã trưởng thành, ông TR không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về tài sản chung và nợ chung: Ông TR xác định giữa ông và bà TH không có tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về án phí

Ông TR phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 51; Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

 Tuyên xử :

[1]. Chấp nhận yêu cầu của ông TR được ly hôn với bà TH.

[2]. Về án phí : ông TR nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), mà ông TR đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0018322 ngày 04/10/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện DK - KH; ông TR đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh KH xét xử phúc thẩm.


77
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 13/2018/HNGĐ-ST ngày 06/03/2018 về ly hôn

Số hiệu:13/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Diên Khánh - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:06/03/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về