Bản án 13/2018/DS-ST ngày 23/11/2018 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 13/2018/DS-ST NGÀY 23/11/2018 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 23 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 29/2018/TLST-DS ngày 09 tháng 8 năm 2018 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2018/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự: 

- Nguyên đơn: Ngân hàng K (S).

Địa chỉ trụ sở chính: NKKN, phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Sĩ K, sinhnăm 1979. Chức vụ: Nhân viên Ngân hàng K, theo văn bản ủy quyền số1312/2018/UQ-TTT ngày 30/7/2018.

 Địa chỉ: đường THĐ, phường H, thành phố ST, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1981 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp AT, xã AT, huyện CLD, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 30/7/2018, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 08/6/2012, anh Nguyễn Văn N có ký với Ngân hàng K (gọi tắt là Ngân hàng) hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng).

Căn cứ thu nhập của anh N, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng hạn mức sử dụng là 11.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn 2,15%/tháng, lãi suất quá hạn 3,225%/tháng (2,15%/tháng x 150%). Sau khiđược cấp Thẻ tín  dụng, anh N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 11.855.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay anh N đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 3.731.958 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng anh N vẫn không có thiện chí trả nợ. Do anh N vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 11/3/2013 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Tính đến ngày 23/11/2018, anh N còn nợ Ngân hàng các khoản sau: Nợ gốc 12.116.910 đồng, tổng cộng tiền lãi là: 27.146.184 đồng (trong đó, lãi trong hạn 18.097.009 đồng và lãi quá hạn 9.049.175 đồng). Tổng cộng nợ gốc và nợ lãi: 39.263.094 đồng.

Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc anh Nguyễn Văn N cótrách nhiệm trả cho Ngân hàng K số tiền 39.263.094 đồng. Trong đó: Nợ gốc 12.116.910 đồng và tiền lãi là 27.146.184 đồng (lãi trong hạn là 18.097.009 đồng và lãi quá hạn 9.049.175 đồng) và buộc anh N tiếp tục trả lãi phát sinh tính từ ngày 24/11/2018 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng.

Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn N, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành thông báo hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án và thông báo hai lần mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tại phiên tòa thì anh N đều vắng mặt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CLD phát biểu ý kiến tại phiên tòa: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, đối với bị đơn mặt dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về nội dung giải quyết vụ án: Qua xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên tòa cho thấy: Việc nguyên đơn Ngân hàng K yêu cầu bị đơn anh Nguyễn Văn N thanh toán nợ gốc và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 23/11/2018) với số tiền là 39.263.094 đồng. Trong đó, nợ gốc 12.116.910 đồng và tiền lãi là: 27.146.184 đồng (lãi trong hạn là 18.097.009 đồng và lãi quá hạn 9.049.175 đồng) và yêu cầu buộc anh N tiếp tục trả lãi phát sinh tính từ ngày 24/11/2018 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng là có cơ sở, nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn có địa chỉ tại ấp AT, xã AT, huyện CLD, tỉnh Sóc Trăng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện CLD thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” là chưa đúng với quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử xác định lại quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về thủ tục tố tụng: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án đối với đơn yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng K theo thủ tục chung, Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn biết để có ý kiến nhưng bị đơn không có ý kiến, Toà án đã tiến hành thông báo cho bị đơn hai lần đến dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn vẫn vắng mặt nên việc hoà giải không tiến hành được. Tại phiên tòa, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn theo quy định của pháp luật.

[4] Về nội dung vụ án: Theo hợp đồng tín dụng (gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 08/6/2012, Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) và tình tiết, sự kiện do Ngân hàng cung cấp, sự không phản đối của anh Nguyễn Văn N, căn cứ khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là những tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh. Cho nên, Hội đồng xét xử xác định anh N đã vay Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng ngày08/6/2012 với hạn mức sử dụng 11.000.000 đồng; lãi suất trong hạn 2,15%/tháng, quá hạn 3,225%/tháng. Sau khi vay, anh N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 11.855.000 đồng và trả được 3.731.958 đồng. Do anh N không trả tiền nên Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn lại thành nợ quá hạn từ ngày 11/3/2013; tính đến hết ngày 23/11/2018 anh N còn nợ Ngân hàng tổng cộng 39.263.094 đồng, gồm 12.116.910 đồng tiền vốn gốc, tiền lãi là 27.146.184 đồng (lãi trong hạn là 18.097.009 đồng và tiền lãi quá hạn 9.049.175 đồng). Do anh N vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo thỏa thuận tại các Điều 18, 19, 20, 22, 23, 24 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng nên việc Ngân hàng yêu cầu anh N trả số tiền còn nợ nêu trên là có căn cứ và phù hợp với khoản 1 Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 và Điều 11, khoản 7 Điều 16, điểm c khoản 2 Điều 24, điểm d khoản 1 Điều 25 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2011 của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước (đã được sửa đổi, bổ sung). Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng có cơ sở chấp nhận và cần buộc anh Nguyễn Văn N phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng K với tổng số tiền 39.263.094 đồng (trong đó, nợ gốc 12.116.910 đồng, tiền lãi là 27.146.184 đồng) tính đến ngày 23/11/2018 là phù hợp với quy định của pháp luật.

[5] Lời đề nghị của Vị Kiểm sát viên là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 463, Điều 465, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2011 của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước (đã được sửa đổi, bổ sung); Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

 Tuyên xử :

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng K về việc yêu cầu anh Nguyễn Văn N thanh toán tổng số tiền 39.263.094 đồng.

- Buộc bị đơn anh Nguyễn Văn N có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng K tổng số tiền là 39.263.094 đồng (Ba mươi chín triệu, hai trăm sáu mươi ba ngàn không trăm chín mươi bốn đồng), trong đó nợ gốc 12.116.910 đồng, lãi trong hạn 18.097.009 đồng và lãi quá hạn 9.049.175 đồng.

- Anh Nguyễn Văn N phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh kể từ ngày 24/11/2018 trở về sau theo hợp đồng cho đến khi Ngân hàng thu hồi hết nợ.

2/ Về án phí:

- Bị đơn anh Nguyễn Văn N phải chịu 1.963.154 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

- Nguyên đơn Ngân hàng K được nhận lại số tiềm tạm ứng án phí đã nộp 942.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000541 ngày 07/8/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tòa tuyên án, đối với bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

215
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 13/2018/DS-ST ngày 23/11/2018 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:13/2018/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cù Lao Dung - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 23/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về