Bản án 131/2019/HSST ngày 01/11/2019 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 131/2019/HSST NGÀY 01/11/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 01 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 120/2019/HSST ngày 18 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2019/QĐXXST-HS ngày 17/10/2019 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn H - Sinh năm 1993. Tên gọi khác: không. Nơi ở và nơi ĐKHKTT: thôn B, xã N, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Văn hóa: 1/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Nguyễn Văn M và bà Phạm Thị V.Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Về nhân thân:

- Tại Bản án số 70/2012/HSST Ny 15/5/2012 Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội Trộm cắp tài sản.

- Ngày 06/9/2013 UBND thành phố Ninh Bình đưa vào cơ sở giáo dục thời hạn 24 tháng.

- Ngày 10/12/2015 Công an phường Nam Thành, thành phố Ninh Bình xử phạt vi phạm hành chính 01 triệu đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 28/5/2019 đến ngày 06/6/2019 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay. Có mặt.

2. Nguyễn Sơn Tùng - Sinh năm 1992. Tên gọi khác: không. Nơi ở và nơi ĐKHKTT: thôn B, xã N, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Văn hóa 9/12.Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Nguyễn Văn N - đã chết và bà Phạm Thị H - sinh năm 1963.V: Trịnh Thị Khánh H. Con: Chưa có.Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Về nhân thân:

- Tại Bản án số 63/2011/HSST ngày 31/5/2011 Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “trộm cắp tài sản”

- Tại bản án số 70/2012/HSST ngày 15/5/2012 Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình xử phạt 12 tháng tù giam về tội “trộm cắp tài sản”.

- Ngày 10/12/2015 Công an phường Nam Thành, thành phố Ninh Bình xử phạt vi phạm hành chính 01 triệu đồng hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/5/2019 đến ngày 06/6/2019 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay. Có mặt

3. Quách Huỳnh Đ, sinh năm 1999.Tên gọi khác: không. Nơi ở và nơi ĐKHKTT: thôn Đ, xã P, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Văn hóa: 6/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Quách Hùng V và bà Trịnh Thị L.Vợ, con: Chưa có. Tiền án: Chưa có. Tiền sự: ngày 17/12/2018 Công an xã Phú Lộc, huyện Nho Quan xử phạt vi phạm hành chính 200.000 đồng về hành vi gây mất trật tự trong khu dân cư.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/6/2019 hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình. Có mặt

4. Quách Văn T, sinh năm 2000.Tên gọi khác: không. Nơi ở và nơi ĐKHKTT: thôn V, xã T, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 11/12 Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Đinh Văn Vu và bà Quách Thị Thêm.Vợ: Bùi Thị Thùy Dương. Con có 01 con sinh năm 2018.Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/5/2019 đến ngày 06/6/2019 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay. Có mặt.

5. Đinh Văn K - Sinh năm 1998. Tên gọi khác: không. Nơi ở và nơi ĐKHKTT: thôn Sấm 2, xã Cúc Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.Quc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: không.Văn hóa: 9/12 .Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Đinh Văn H và bà Quách Thị G. Vợ, con: Chưa có. Tiền án: Chưa có.Tiền sự: Ngày 29/5/2019 Công an huyện Gia Viễn xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/7/2019 đến ngày 04/7/2019 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay. Có mặt

6. Phạm Hồng T1, sinh năm 1992.Tên gọi khác: không. Nơi ở và nơi ĐKHKTT: thôn 3, xã P, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Quc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Phạm Hồng S và bà Lương Thị N.Vợ, con: Chưa có.Tiền án, tiền sự: Chưa có.

Về nhân thân:

- Tại Bản án số 74/2013/HSST ngày 27/11/2013 Tòa án nhân dân huyện Nho Quan xử phạt 24 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Ra trại ngày 12/2/2015.

- Ngày 18/11/2013 Công an huyện Nho Quan xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi Trực tiếp xâm hại sức khỏe người khác.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/7/2019 đến ngày 04/7/2019 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay. Có mặt

- Bị hại:

+ Ông Nguyễn Tử H, sinh năm 1959; trú tại: thôn Thượng Nam, xã Ninh Nhất, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1976; trú tại: phố Kim Đa, phường Ninh Khánh, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.

+ Bà Lê Quế G, sinh năm 1973; trú tại: thôn Cổ Loan Thượng, xã Ninh Tiến, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.

+ Bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1979; trú tại: thôn Nguyên Ngoại, xã Ninh Nhất, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1954; trú tại: phố Kim Đa, phường Ninh Khánh, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.

+ Ông Nguyễn Trần H, sinh năm 1952; trú tại: thôn Đề Lộc, xã Ninh Nhất, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Anh Hoàng Trung K, sinh năm 1991; trú tại: thôn 5, xã Phú Long, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Thiên T, sinh năm 1982; trú tại: xóm 4, Thượng Hòa, xã Gia Thanh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.

+ Chị Trịnh Thị Khánh H, sinh năm 1999; nơi ĐKNKTT: Thôn HT 1, xã Q, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Hiện trú tại: Thôn Hậu, xã Ninh Nhất, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn H, Quách Văn T, Nguyễn Sơn Tùng, Quách Huỳnh Đ, Phạm Hồng T1, Đinh Văn K có quan hệ bạn bè với nhau và đều là những đối tượng không có công ăn việc làm ổn định, thường xuyên tụ tập tại phòng trọ của H và Tùng trú tại thôn Hậu, xã Ninh Nhất rồi rủ nhau trộm cắp tài sản lấy tiền ăn tiêu. Trong khoảng thời gian từ ngày 01/4/2019 đến ngày 27/5/2019 H, T, T2, Đ, T1, K đã thực hiện 04 vụ trộm cắp cây hoa mẫu đơn trên địa bàn thành phố Ninh Bình, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khong 20 giờ ngày 01/4/2019, Nguyễn Văn H rủ Quách Huỳnh Đ đi trộm cây hoa mẫu đơn, Đ đồng ý. H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Exciter (không rõ biển kiểm soát) của H chở Đ đến nhà ông Nguyễn Tử H sinh năm 1959 ở thôn Thượng Nam, xã Ninh Nhất, thành phố Ninh Bình phát hiện trong vườn có trồng 01 cây hoa mẫu đơn hoa đỏ có 03 thân quấn vào nhau cao khoảng 02 mét, tán rộng khoảng 01 mét và 02 cây hoa mẫu đơn hoa vàng. H bảo Đ điều khiển xe mô tô đi chỗ khác chờ khi nào H gọi điện thì quay lại đón, còn H vào trong vườn dùng xà beng tự chế để đào bật rễ 03 cây hoa mẫu đơn. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, H đào xong 03 cây hoa mẫu đơn nói trên rồi gọi điện cho Đ quay lại đón. Đ điều khiển xe mô tô quay lại nhà ông H thì thấy H ném từ bên trong tường rào nhà ông H ra ngoài đường 03 cây hoa mẫu đơn rồi Đ chở H ôm cây ngồi sau mang về nhà Đ ở xã Phú Lộc, huyện Nho Quan cất giấu. Ny hôm sau H mang 03 cây hoa mẫu đơn trên bán cho anh Hoàng Trung K sinh năm 1991, trú tại thôn 5 xã Phú Long, huyện Nho Quan lấy số tiền 5.000.000 đồng. H đưa cho Đ 2.000.000 đồng. Số tiền này H và Đ đã tiêu sài cá nhân hết. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã thu giữ được cây hoa mẫu đơn hoa đỏ tại nhà anh Hoàng Trung K. Đối với 02 cây hoa mẫu đơn hoa vàng anh K đã bán cho anh Lê Văn Hoạt sinh năm 1987 trú tại xã Nga Văn, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa sau đó anh Hoạt bán lại cho một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ với giá 22.000.000 đồng nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 63 ngày 16/7/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố Ninh Bình kết luận: cây mẫu đơn hoa đỏ có 03 thân quấn vào nhau, cao 02 m, tán rộng 01 m trị giá 3.000.000 đồng.

Vụ thứ hai: Đêm ngày 07/5 rạng sáng ngày 08/5/2019, Nguyễn Sơn T2 rủ Quách Văn T đi trộm cắp cây hoa mẫu đơn, T đồng ý. Sau đó T2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35B1- 051.43 của T2 chở T đi trên các tuyến đường ở thành phố Ninh Bình để tìm cây hoa mẫu đơn. Đến khoảng 01 giờ ngày 08/5/2019, T2 và T đi đến khu vực phố Kim Đa, phường Ninh Khánh, thành phố Ninh Bình phát hiện nhà anh Nguyễn Văn N sinh năm 1976 có 01 cây hoa mẫu đơn, cây có 04 thân, cao khoảng 1,8 m, tán rộng khoảng 1,5 m, đường kính mỗi thân khoảng 04 cm được trồng trong chậu để trước cửa nhà. Thấy vậy T2 và T xuống xe đi đến chậu cây, quan sát thấy không có ai trông coi. T2 và T dùng H tay lay cây nhổ lên khỏi chậu rồi T2 gọi điện thoại cho anh Nguyễn Thiên T sinh năm 1982 trú tại xóm 4 Thượng Hòa, xã Gia Thanh huyện Gia Viễn hỏi anh T có mua cây hoa mẫu đơn không, anh T bảo T2 cứ mang cây lên để xem. Sau đó T2 điều khiển xe chở T ngồi sau ôm cây đến nhà anh T rồi bán cho anh T với giá 2.000.000 đồng. T2, T chia nhau mỗi người 1.000.000 đồng sử dụng vào việc tiêu sài cá nhân. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã thu giữ được cây hoa mẫu đơn này tại nhà anh Nguyễn Thiên T.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 36 ngày 31/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố Ninh Bình kết luận: cây hoa mẫu đơn hoa đỏ có 04 thân, cao 1,8 m, tán rộng 1,5 m trị giá 2.500.000 đồng.

Vụ thứ ba : Khoảng 00 giờ ngày 14/5/2019, Nguyễn Văn H và Đinh Văn K đang ở cùng nhau tại phòng trọ của H ở thôn Hậu, xã Ninh Nhất, thành phố Ninh Bình. Do có ý định đi trộm cắp tài sản nên H gọi điện thoại cho Phạm Hồng T1 rủ T1 xuống thành phố Ninh Bình để trộm cắp tài sản. Lúc này T1 đang ở nhà của Quách Huỳnh Đ nên T1 rủ Đ cùng đi trộm cắp tài sản, Đ đồng ý. Sau đó Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35N1- 353.39 của Đ chở T1 đến phòng trọ của H. Do trước đó H đã đi tìm xem chỗ nào có cây hoa mẫu đơn và phát hiện nhà chị Lê Quế G sinh năm 1973 tại thôn Cổ Loan Thượng, xã Ninh Tiến, thành phố Ninh Bình có 01 cây hoa mẫu đơn thân hình chữ Y được trồng trong chậu để ở trong sân nên H nói với cả bọn đi trộm cây hoa mẫu đơn, cả hội đồng ý. Sau đó K điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35N1-353.39 chở Đ còn H lấy xe mô tô nhãn hiệu sirius mầu đỏ biển kiểm soát 35B2-358.57 của chị Nguyễn Thị Thắm sinh năm 1992 trú tại xã Lạng Phong, huyện Nho Quan (là bạn gái của H) đưa cho T1 điều khiển chở H đến nhà chị Lê Quế G. Khi đến nơi, H và Đ xuống xe, H đưa cho Đ 01 con dao tông dài khoảng 50 đến 60 cm, bản rộng khoảng 04 cm và 01 đèn pin đội đầu. H cũng đeo 01 đèn pin đội đầu rồi trèo qua hàng rào vào trước, Đ trèo vào sau. Còn T1 và K đứng bên ngoài cảnh giới. H đi đến chỗ cây mẫu đơn dùng tay tháo dây xích ở thân cây rồi dùng tay lay bật rễ cây lên, H và Đ rũ hết đất ở gốc cây rồi Đ dùng tay đưa cây qua hàng rào. Lấy được cây Đ ôm cây lên xe do K điều khiển rồi cả hội đem cây về nhà Đ ở xã Phú Lộc, huyện Nho Quan trồng ở vườn. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã thu giữ được cây hoa mẫu đơn này tại vườn nhà Đ.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 36 Ny 31/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố Ninh Bình kết luận: Cây hoa mẫu đơn hoa đỏ có 01 thân hình chữ Y, cao 01 m, tán hình ô rộng 01 m trị giá 3.500.000 đồng.

Vụ thứ tư: Sáng ngày 27/5/2019, Quách Văn T đến khu phòng trọ của Nguyễn Văn H và Nguyễn Sơn T2 chơi. Đến khoảng 13 giờ cùng Ny T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 35B1- 051.43 của Nguyễn Sơn T2 chở Nguyễn Văn H đến khu vực bến thuyền Tràng An, thuộc huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình phát hiện trong vườn một nhà dân (Đến nay chưa xác định được người bị hại) trồng 01 cây hoa mẫu đơn hoa đỏ, cây cao khoảng 03 m, tán rộng khoảng 2,5 m, cây có 12 thân. H bảo T đứng ngoài chờ còn mình vào trong vườn lấy cuốc và liềm có sẵn ở đó đào và cắt rễ cây, dùng H tay lay bật rễ rồi bê ra chỗ T. H ngồi sau xe ôm cây, còn T điều khiển xe đi ra đường ĐT 477 đón chị Trịnh Thị Khánh Huyền sinh năm 1999 trú tại xã Quỳnh Lưu, huyện Nho Quan (là vợ của Nguyễn Sơn T2) đi làm về rồi cả ba người mang cây về phòng trọ của H cất giấu. Sau đó H nhờ chị Huyền liên lạc bán cây nhưng không có người mua. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn H rủ Quách Văn T và Nguyễn Sơn T2 đi trộm cắp tài sản là cây hoa mẫu đơn. Nhưng do đi làm về mệt nên T2 không đi thì H liền mượn xe mô tô nhãn hiệu Wave anphal biển kiểm soát 35B1- 051.43 của T2 để làm phương tiện đi trộm cắp tài sản. T2 đồng ý, H lấy chìa khóa xe T2 để ở phòng rồi điều khiển xe chở T đi đến khu vực thôn Nguyên Ngoại, xã Ninh Nhất, thành phố Ninh Bình phát hiện trong vườn nhà chị Nguyễn Thị Ngọc L sinh năm 1979 có 01 cây hoa mẫu đơn đỏ cao khoảng 02 m, tán rộng khoảng 2,5 m, cây có 10 thân, mỗi thân có kích thước khoảng 2,5 cm. H bảo T đứng ngoài chờ còn H đi theo móng nhà đang làm dở vào trong vườn đến chỗ cây hoa mẫu đơn, H dùng con dao tự chế đào cây lên và lay bật rễ sau đó ném ra ngoài đường qua móng nhà đang xây dở rồi ôm cây ngồi lên sau xe T chở mang về phòng trọ cất giấu. Đến khoảng 23 giờ cùng Ny, T lại tiếp tục chở H đi đến khu vực phố Kim Đa, phường Ninh Khánh phát hiện trước cửa nhà ông Trần Văn B sinh năm 1954 số nhà 09 ngõ 134 đường Đinh Tiên Hoàng thuộc phố Kim Đa có 01 cây hoa mẫu đơn đỏ cao khoảng 02m, tán rộng khoảng 1,2 m, có 03 thân được trồng trong chậu để trên vỉa hè trước cửa nhà. H xuống xe đi đến chỗ cây hoa, dùng H tay bới đất và lay bật rễ cây lên rồi ôm cây ngồi sau xe T chở về cất giấu cây ở mương thôn Đề Lộc, xã Ninh Nhất. Sau đó H và T lại tiếp tục đi vào khu vục thôn Đề Lộc để tìm cây hoa mẫu đơn. Khi đi đến nhà ông Nguyễn Trần H sinh năm 1952 phát hiện thấy có cành hoa mẫu đơn chìa ra ngoài đường nên H bảo T dừng xe đứng ngoài chờ. Còn H nhảy qua tường vào trong vườn thấy 01 cây hoa mẫu đơn đỏ cao khoảng 02 m, tán rộng khoảng 1,5 m, cây có 04 thân, đường kính gốc khoảng 20cm được trồng dưới đất sát tường. H dùng con dao tự chế đào gốc cây lên và dùng tay lay bật rễ sau đó ném qua tường ra ngoài đường rồi trèo qua tường ra ngoài sau đó nhặt cây lên ôm ngồi sau xe T chở ra chỗ mương lấy cây hoa mẫu đơn vừa giấu ở đó mang về phòng trọ cất giấu.

Khong 8 giờ 30 phút ngày 28/5/2019, Công an xã Ninh Nhất, thành phố Ninh Bình tiến hành kiểm tra cư trú tại nhà trọ của bà Lê Thị Huyền sinh năm 1959 tại thôn Hậu, xã Ninh Nhất phát hiện H, T không có giấy tờ tùy thân và phát hiện tại phòng trọ của H có 04 cây hoa mẫu đơn nên yêu cầu H, T về trụ sở Công an xã làm việc. Tại Công an xã Ninh Nhất, H và T đã xin tự thú về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra cơ quan Công an còn thu giữ của Nguyễn Văn H 03 chiếc đèn pin đội đầu;

01 chiếc cuốc dài 80 cm, có lưỡi bằng kim loại kích thước 10x25 cm; 01 xẻng bằng kim loại dài 1,2 m, phần lưỡi rộng 10 cm; 01 con dao lưỡi bằng kim loại, đầu nhọn, dài khoảng 20 cm, chuôi dao bằng gỗ dài khoảng 25 cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu phillip mầu đen; 01 xe mô tô biển kiểm soát 35B1- 051.43. Thu giữ của Quách Văn T 01 khuyên tai, 01 chiếc nhẫn, 01 dây chuyền bằng kim loại mầu vàng và số tiền 336.000 đồng. Thu giữ của Nguyễn Sơn T2 01 xe mô tô biển kiểm soát 35M1 - 4353. Thu giữ của Quách Huỳnh Đ 01 con dao tông tự chế bằng kim loại dài 60 cm, bản dao rộng 4 cm và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave mầu trắng biển kiểm soát 35B1 - 353.39. Thu giữ của chị Trịnh Thị Khánh Huyền 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia mầu đen.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 35 ngày 31/5/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thành phố Ninh Bình kết luận: Cây hoa mẫu đơn hoa đỏ có 04 thân, cao 02 m, tán rộng 1,5 m trị giá 1.000.000 đồng; cây hoa mẫu đơn hoa đỏ có 03 thân, cao 02 m, tán rộng 1,2 m trị giá 1.000.000 đồng; cây hoa mẫu đơn hoa đỏ có 12 thân, cao 03 m, tán rộng 2,5 m trị giá 2.500.000 đồng; cây hoa mẫu đơn hoa đỏ có 10 thân, cao 2,5 m, tán rộng 2 m trị giá 3.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 7.500.000 đồng.

Quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn kH báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình Tại bản Cáo trạng số 124/CT-VKS Ny 16/9/2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Sơn T2, Quách Huỳnh Đ, Quách Văn T, Phạm Hồng T1, Đinh Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, 5 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Hội đồng xét xử tuyên bố: các bị cáo các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Sơn T2, Quách Huỳnh Đ, Quách Văn T, Phạm Hồng T1, Đinh Văn K phạm tội Trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo H từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù T từ Ny bắt tạm giữ 28/5/2019.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1, Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo T2 từ 09 đến 12 tháng tù, thời hạn tù T từ Ny bắt tạm giữ 29/5/2019.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đ từ 09 đến 12 tháng tù, thời hạn tù T từ Ny bắt tạm giam 06/6/2019.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo T từ 09 đến 12 tháng tù, thời hạn tù T từ Ny bắt tạm giữ 28/5/2019.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo K từ 06 đến 09 tháng tù, thời hạn tù T từ Ny bắt tạm giữ 02/7/2019.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo T1 từ 06 đến 9 tháng tù, thời hạn tù T từ Ny bắt tạm giữ 02/7/2019.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng 46, 48 Bộ luật dân sự; Điều 357, Điều 584, 585, 587, 589 Bộ luật dân sự: Buộc Quách Văn T, Nguyễn Sơn T2 phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn N số tiền 2.500.000đồng (H triệu năm trăm nghìn đồng). Cụ thể: Nguyễn Sơn T2 l.000.000đồng, Quách Văn T 1.500.000đồng. (Số tiền 01 triệu đồng Nguyễn Sơn T2 đã thi hành tại Chi cục Thi hành án do chị Trịnh Thị Khánh Huyền nộp thay). Chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Văn H bồi thường cho ông Nguyễn Tử H 8 triệu đồng. Các bị cáo phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định pháp luật.

Về xử L vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:Trả lại cho Quách Văn T 01 khuyên tai, 01 chiếc nhẫn, 01 dây chuyền bằng kim loại mầu vàng được niêm phong trong phong bì thư và số tiền 336.000 đồng nhưng quản L số tiền để đảm bảo thi hành án. Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước: 03 chiếc đèn pin đội đầu; 01 chiếc cuốc; 01 xẻng; 01 con dao; 01 điện thoại di động nhãn hiệu phillip mầu đen thu giữ của Nguyễn Văn H; 01 con dao tông tự chế và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave mầu trắng biển kiểm soát 35B1 - 353.39 thu giữ của Quách Huỳnh Đ.Trả lại cho chị Trịnh Thị Khánh Huyền 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia mầu đen.

Các bị cáo H, T2, T, Đ, K, T1 phải chịu án hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo T và bị cáo H phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên và đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

[2].Về tội danh và hình phạt: Các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Sơn T2, Quách Huỳnh Đ, Quách Văn T, Phạm Hồng T1, Đinh Văn K đã lợi dụng đêm tối lén lút vào nhà dân để chiếm đoạt tài sản là các cây hoa mẫu đơn có nhiều thân, kích thước lớn, tán rộng nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu sài cá nhân cá nhân, cụ thể các bị cáo đã thực hiện các lần như sau:

*Đối với bị cáo Nguyễn Văn H:

+ Khoảng 21 giờ ngày 01/4/2019 bị cáo cùng với Quách Huỳnh Đ chiếm đoạt của nhà ông Nguyễn Tử H ở thôn Thượng Nam, xã Ninh Nhất, thành phố Ninh Bình 01 cây hoa mẫu đơn đỏ trị giá 3 triệu đồng;

+ Khoảng 00 giờ ngày 14/5/2019 bị cáo cùng với Quách Huỳnh Đ, Phạm Hồng T1, Đinh Văn K chiếm đoạt 01 cây hoa mẫu đơn của nhà chị Lê Quế G tại thôn Cổ Loan Thượng, xã Ninh Tiến, thành phố Ninh Bình trị giá 3,5 triệu đồng;

+ Khoảng 23 giờ ngày 27/5/2019 bị cáo cùng với Nguyễn Sơn T2, Quách Văn T chiếm đoạt của nhà chị Nguyễn Thị Ngọc L ở thôn Ngoại, xã Ninh Nhất, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình 01 cây hoa mẫu đơn trị giá 3 triệu đồng, của ông Trần Văn B ở phố Kim Đa, phường Ninh Khánh, thành phố Ninh Bình 01 cây hoa mẫu đơn trị giá 1 triệu đồng, của ông Nguyễn Trần H 01 cây hoa mẫu đơn trị giá 1 triệu đồng.

Tng trị giá tài sản Nguyễn Văn H đã tham gia chiếm đoạt là 11,5 triệu đồng.

* Đối với Nguyễn Sơn T2: Rạng sáng ngày 08/5/2019 bị cáo cùng với Quách Văn T chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn N ở phố Kim Đa, phường Ninh Khánh, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình 01 cây mẫu đơn trị giá 2,5 triệu đồng.

- Khoảng 23 giờ ngày 27/5/2019 tham gia với vai trò giúp sức về phương tiện xe mô tô để các bị cáo Nguyễn Văn H và Quách Văn T chiếm đoạt của nhà chị Nguyễn Thị Ngọc L ở thôn Ngoại, xã Ninh Nhất, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình 01 cây hoa mẫu đơn trị giá 3 triệu đồng, của ông Trần Văn B ở phố Kim Đa, phường Ninh Khánh, thành phố Ninh Bình 01 cây hoa mẫu đơn trị giá 1 triệu đồng, của ông Nguyễn Trần H 01 cây hoa mẫu đơn trị giá 1 triệu đồng. Tổng trị giá tài sản bị cáo Nguyễn Sơn T2 tham gia chiếm đoạt là 7,5 triệu đồng.

* Đối với bị cáo Quách Huỳnh Đ: Ngày 01/4/2019 tham gia cùng với bị cáo Nguyễn Văn H chiếm đoạt 01 cây hoa mẫu đơn hoa đỏ của ông Nguyễn Tử H trị giá 3 triệu đồng. Ngày 14/5/2019 tham gia cùng với Nguyễn Văn H, Phạm Hồng T1, Đinh Văn K chiếm đoạt 01 cây hoa mẫu đơn của nhà chị Lê Quế G tại thôn Cổ Loan Thượng, xã Ninh Tiến, thành phố Ninh Bình trị giá 3,5 triệu đồng.Tổng trị giá tài sản bị cáo Quách Huỳnh Đ tham gia chiếm đoạt là 6,5 triệu đồng.

* Đối với Quách Văn T: Ngày 08/5/2019 Quách Văn T tham gia cùng với Nguyễn Sơn T2 chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn N ở phố Kim Đa, phường Ninh Khánh, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình 01 cây mẫu đơn trị giá 2,5 triệu đồng. ngày 27/5/2019 Quách Văn T tham gia cùng với Nguyễn Văn H, Nguyễn Sơn T2 chiếm đoạt của nhà chị Nguyễn Thị Ngọc L ở thôn Ngoại, xã Ninh Nhất, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình 01 cây hoa mẫu đơn trị giá 3 triệu đồng, của ông Trần Văn B ở phố Kim Đa, phường Ninh Khánh, thành phố Ninh Bình 01 cây hoa mẫu đơn trị giá 1 triệu đồng, của ông Nguyễn Trần H 01 cây hoa mẫu đơn trị giá 1 triệu đồng. Tổng trị giá tài sản bị cáo tham gia chiếm đoạt là 7,5 triệu đồng.

* Đối với Đinh Văn K và Phạm Hồng T1 tham gia chiếm đoạt cùng với Nguyễn Văn H và Quách Huỳnh Đ trộm cắp 01 cây mẫu đơn của nhà chị Lê Quế G tại thôn Cổ Loan Thượng, xã Ninh Tiến, thành phố Ninh Bình vào ngày 14/5/2019 trị giá 3,5 triệu đồng.

Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Sơn T2, Quách Huỳnh Đ, Quách Văn T, Phạm Hồng T1, Đinh Văn K đã kH nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời kH của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, biên bản xác định hiện trường, kết luận định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Đối chiếu với quy định của pháp luật, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Sơn T2, Quách Huỳnh Đ, Quách Văn T, Phạm Hồng T1, Đinh Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được luật Hình sự bảo vệ, gây tâm L bất bình trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo đều là những người có nhân thân xấu, đã bị các cơ quan có thẩm quyền xử L pháp luật nhưng không lấy đó làm bài học, do vậy cần xử phạt các bị cáo hình phạt tù mới có tác dụng cải tạo các bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội đồng thời cũng nhằm giáo dục pháp luật và phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử đánh giá nhân thân, T chất mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo để có hình phạt tương xứng.

*Đối với bị cáo Nguyễn Văn H là người có nhân thân xấu, năm 2012 đã bị Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình kết án về tội Trộm cắp tài sản đã được xóa án tích, năm 2015 bị Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở giáo dục 24 tháng, năm 2015 bị Công an phường Nam Thành xử phạt hành chính phạt tiền về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân. Trong tội phạm lần này, bị cáo Nguyễn Văn H là người chủ động trong việc tìm tài sản để trộm cắp, là người thực hiện tích cực nhất trong việc chiếm đoạt tài sản là các cây hoa mẫu đơn đồng thời cũng là người chủ động trong việc tìm người tiêu thụ tài sản trộm cắp; hành vi của bị cáo phạm tội từ 02 lần trở lên, thuộc tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do vậy bị cáo H giữ vai trò thứ nhất. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo H đã tự thú khai ra các lần phạm tội ngày 01/4/2019, ngày 14/5/2019, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

*Đối với bị cáo Nguyễn Sơn T2 cũng là người có nhân thân xấu, năm 2011 và năm 2012 bị cáo đã bị Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình kết án về tội Trộm cắp tài sản đã được xóa án tích, năm 2015 bị Công an phường Nam Thành xử phạt hành chính phạt tiền về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Trong tội phạm lần này, bị cáo là người thực hành tích cực, giúp sức về công cụ phương tiện trong việc đi thực hiện trộm cắp của bị cáo H và bị cáo T. Hành vi của bị cáo T2 là phạm tội 02 lần thuộc tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo T2 đã tự thú, sau khi phạm tội đã thành khẩn kH báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã nói với gia đình để gia đình bị cáo khắc phục một phần hậu quả thiệt hại cho người bị hại là ông Nguyễn Văn N với số tiền 1 triệu đồng, hiện số tiền nộp tại Chi cục thi hành án theo Biên lai thu tiền số AA/20130000450 ngày 24/9/2019. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T2 giữ vị trí thứ 2.

*Đối với bị cáo Quách Huỳnh Đ có tiền sự ngày 17/12/2018 bị Công an xã Phú Lộc, huyện Nho Quan xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 200.000đồng về hành vi gây mất trật tự trong khu dân cư. Trong tội phạm lần này, bị cáo là người thực hành tích cực, sau khi lấy được tài sản bị cáo là người đem tài sản đi cất giấu tại nhà mình, bị cáo phạm tội 02 lần thuộc tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ sau khi phạm tội bị cáo Đ đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã nói với gia đình để gia đình bị cáo tự nguyện khắc phục bồi thường thiệt hại cho người bị hại. Ông Nguyễn Tử H là người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

*Đối với bị cáo Quách Văn T về nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; trong tội phạm lần này bị cáo là người thực hiện tích cực, giúp sức cho đồng phạm thực hiện việc trộm cắp, bị cáo phạm tội 02 lần thuộc tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo T sau khi bị cơ quan Công an phát hiện bắt giữ, bị cáo cũng đã tự thú khai ra lần phạm tội trước, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo là người dân tộc Mường. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hi đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt đối với bị cáo T và bị cáo Đ ngang nhau là phù hợp.

*Đối với bị cáo Đinh Văn K có tiền sự ngày 29/5/2019 bị Công an huyện Gia Viễn xử phạt hành chính 1.500.000đồng về hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo không lấy đó làm bài học, tội phạm lần này này bị cáo thực hiện với vai trò giúp sức. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã ra đầu thú, bị cáo là người dân tộc Mường, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo pham tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

*Đối với bị cáo Phạm Hồng T1 về nhân thân năm 2013 bị Tòa án nhân dân huyện Nho Quan xử phạt 24 tháng tù về tội Gây rối tật tự công cộng đã được xóa án tích; ngày 18/11/2013 bị Công an huyện Nho Quan xử phạt tiền về hành vi xâm hại sức khỏe người khác, tội phạm lần này bị cáo thực hiện với vai trò là người giúp sức, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xét thấy cần đánh giá mức hình phạt đối với K và T1 ngang nhau là phù hợp.

[3].Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Tử H đã nhận lại tài sản là cây hoa mẫu đơn đỏ do bị cáo H và Đ chiếm đoạt tuy nhiên cây bị chết. Ông H yêu cầu bị cáo H và bị cáo Đ phải bồi thường 15 triệu đồng do ông bị mất trộm 02 cây mẫu đơn hoa vàng và 01 cây mẫu đơn hoa đỏ, giá trị 03 cây là 15 triệu đồng. Bị cáo Đ đã tự nguyện bồi thường cho ông H 7 triệu đồng. Ông H yêu cầu bị cáo H phải bồi thường tiếp số tiền còn lại là 8 triệu đồng. Hội đồng xét xử xét thấy 02 cây mẫu đơn hoa vàng của nhà ông Nguyễn Tử H bị mất không thu hồi được, tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo H chấp nhận bồi thường cho ông H số tiền 8 triệu đồng. Xét thấy đây là tự nguyện của bị cáo H nên cần chấp nhận.

Đi với ông Nguyễn Văn N cũng đã nhận lại cây hoa mẫu đơn do bị các bị cáo T2 và T chiếm đoạt. Sau khi nhận lại cây, cây bị chết. Ông yêu cầu bị cáo T2 và bị cáo T phải bồi thường giá trị cây hoa mẫu đơn là 2,5 triệu đồng. Do vậy cần buộc bị cáo T2 và bị cáoT phải bồi thường cho ông Nguyễn Văn N số tiền 2,5 triệu đồng. Hiện gia đình bị cáo T2 đã nộp tại cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình theo Biên lai thu tiền số AA/20130000450 Ny 24/9/2019 số tiền 1 triệu đồng để thi hành. Ti phiên tòa bị cáo T chấp nhận bồi thường số tiền còn lại là 1.500.000đồng cho ông Nguyễn Văn N.

Nhng người bị hại gồm chị G, chị L, ông H, ông B đã nhận lại tài sản là các cây hoa mẫu đơn, không có ý kiến gì và không có đề nghị gì về phần bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đi với những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án gm anh Hoàng Trung K, anh Nguyễn Thiên T là những người đã mua cây hoa mẫu đơn của Nguyễn Văn H, Quách Huỳnh Đ, Nguyễn Sơn T2, Quách Văn T nhưng không biết đây là tài sản do trộm cắp nên không vi phạm.

Anh K mua 03 cây mẫu đơn (01 cây mẫu đơn hoa đỏ và 02 cây mẫu đơn hoa vàng) do bị cáo H và Đ trộm cắp của ông H với số tiền là 5.000.000đồng. Anh K đã giao nộp lại cây hoa mẫu đơn đỏ cho Cơ quan Công an để trả cho ông H nhưng cây bị chết, còn 02 cây hoa mẫu đơn hoa vàng anh K đã bán không thu hồi được. Đến nay bị cáo H và bị cáo Đ cũng đã bồi thường cho ông H giá trị 03 cây mẫu đơn nên việc anh K không yêu cầu bị cáo Đ và bị cáo H phải trả lại số tiền anh đã mua cây là phù hợp.

Anh T mua cây của bị cáo T2 và T với số tiền 2 triệu đồng nhưng sau khi anh T trả cây cho người bị hại là ông N thì cây bị chết. Ông N đã yêu cầu T2 và T phải bồi thường thiệt hại. Bị cáo T2 và bị cáo T đã xác định trách nhiệm bồi thưng cho ông N nên việc anh T không yêu cầu T2 và T phải trả tiền mua cây là cũng phù hợp với pháp luật.

[4].Về xử lý vật chứng: Đối với 03 chiếc đèn pin đội đầu, 01 chiếc cuốc, 01 xẻng, 01 con dao, 1 điện thoại di động nhãn hiệu phillip mầu đen đã cũ thu giữ của Nguyễn Văn H; 01 con dao tông và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave mầu trắng biển kiểm soát 35B1 - 353.39 thu giữ của bị Đ là công cụ phương tiện phạm tội có giá trị cần tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước - Đối với 01 khuyên tai, 01 chiếc nhẫn, 01 dây chuyền bằng kim loại mầu vàng được niêm phong trong phong bì thư và số tiền 336.000 đồng thu giữ của Quách Văn T không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho Quách Văn T nhưng cần quản L số tiền để đảm bảo thi hành án của bị cáo T.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia mầu đen thu giữ của chị Trịnh Thị Khánh Huyền không liên quan trong vụ án này cần trả lại cho chị Huyền.

[5]. Các vấn đề khác: Đi với một số cây hoa mẫu đơn mà các bị cáo kH nhận đã chiếm đoạt nhưng Cơ quan Công an chưa tìm được người bị hại hoặc chưa tìm được vật chứng nên cơ quan Công an thành phố Ninh Bình đã tách ra để giải quyết sau là phù hợp.

Đi với xe mô tô biển kiểm soát 35M1- 4353 thu giữ của Nguyễn Sơn T2. Quá trình điều tra xác định đây là xe của anh Đinh Văn Ước sinh năm 1986 trú tại thôn Tiền, xã Ninh Nhất, thành phố Ninh Bình gửi ở phòng trọ của T2 để T2 chở anh Ước đi làm, không liên quan đến việc phạm tội. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã trả lại cho anh Ước theo quy định.

Đi với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 35B1- 051.43 thu giữ của Nguyễn Văn H sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản. Chiếc xe được đăng ký tên chủ sở hữu là Lê Thị Thảnh, trú tại thôn Nhân L, xã Ninh Mỹ, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Nguyễn Sơn T2 khai nhận chiếc xe trên do T2 mua năm 2018 tại một cửa hàng xe máy cũ trên địa bàn thành phố Ninh Bình nhưng không nhớ địa chỉ với giá 10.000.000 đồng, H bên có viết giấy bán xe nhưng T2 đã làm mất. Ngày 27/5/2019 Nguyễn Sơn T2 cho Nguyễn Văn H và Quách Văn T mượn để làm phương tiện đi lấy trộm cây hoa mẫu đơn. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được chị Thảnh hiện đang ở đâu. Do chưa làm rõ được nguồn gốc chiếc xe mô tô nói trên nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình tách phần tài liệu có liên quan để tiếp tục điều tra xác minh và xử L sau là phù hợp.

Đi với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Exciter không rõ biển kiểm soát do Nguyễn Văn H và Quách Huỳnh Đ sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản vào Ny 01/4/2019, Nguyễn Văn H khai nhận chiếc xe trên đã bị cháy nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

[6]. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Sơn T2, Quách Huỳnh Đ, Quách Văn T, Phạm Hồng T1, Đinh Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Án phí dân sự: Bị cáo H và bị cáo T còn phải bồi thường thiệt hại về tài sản nên phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

[7]. Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong thời gian luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1p dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn H.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Sơn T2.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với Quách Huỳnh Đ.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với Quách Văn T.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s, i khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Đinh Văn K.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Phạm Hồng T1.

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Sơn T2, Quách Huỳnh Đ, Quách Văn T, Phạm Hồng T1, Đinh Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sảnXử phạt:

- Bị cáo Nguyễn Văn H 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 28/5/2019.

- Bị cáo Nguyễn Sơn T2 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 29/5/2019.

- Bị cáo Quách Huỳnh Đ 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 06/6/2019.

- Bị cáo Quách Văn T 9 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 28/5/2019.

- Bị cáo Đinh Văn K 6 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 02/7/2019.

- Bị cáo Phạm Hồng T1 6 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 02/7/2019.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46, 48, Điều 357, Điều 584, 585, 587, 589 Bộ luật dân sự 2015.

- Buộc Quách Văn T, Nguyễn Sơn T2 phải bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Văn N số tiền 2.500.000đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng). Cụ thể Nguyễn Sơn T2 l.000.000đồng, Quách Văn T 1.500.000đồng. ( hiện số tiền 01 triệu đồng Nguyễn Sơn T2 đã thi hành theo Biên lai thu tiền số AA/20130000450 Ny 24/9/2019 ca Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).

- Chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Văn H bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Tử H 8.000.000đồng (tám triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

3. Về xử L vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

-Tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước: 03 chiếc đèn pin đội đầu; 01 chiếc cuốc; 01 xẻng; 01 con dao; 01 điện thoại di động nhãn hiệu phillip mầu đen thu giữ của Nguyễn Văn H; 01 con dao tông tự chế và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave mầu trắng biển kiểm soát 35B1 - 353.39 thu giữ của Quách Huỳnh Đ.

- Trả lại cho Quách Văn T 01 khuyên tai, 01 chiếc nhẫn, 01 dây chuyền bằng kim loại mầu vàng được niêm phong trong phong bì thư và số tiền 336.000 đồng, tuy nhiên quản lý số tiền 336.000đồng để đảm bảo thi hành án của bị cáo T.

- Trả lại cho chị Trịnh Thị Khánh Huyền 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia mầu đen.

(Vật chứng có đặc điểm theo như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 10 năm 2019 giữa Công an Thành phố Ninh Bình và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình.

Hiện số tiền đang ở tài khoản của Chi cục thi hành án thành phố Ninh Bình theo giấy ủy nhiệm chi ngày 09/10/2019 tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Ninh Bình).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Sơn T2, Quách Huỳnh Đ, Quách Văn T, Phạm Hồng T1, Đinh Văn K mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Án phí dân sự: Bị cáo Quách Văn T, bị cáo Nguyễn Văn H mỗi bị cáo phải nộp 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo H, T2, Đ, T, K, T1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Huyền có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ Ny nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trưng hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


16
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 131/2019/HSST ngày 01/11/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:131/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Ninh Bình - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 01/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về