Bản án 130/2019/HNGĐ-ST ngày 26/06/2019 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 130/2019/HNGĐ-ST NGÀY 26/06/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 26 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 567/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hải Đ, sinh năm 1996.

Đa chỉ: Ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh L.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Tấn A, sinh năm 1989.

Đa chỉ: Ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh L.

(Chị Đ có mặt, anh A xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn ngày 30 tháng 5 năm 2019 và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Lê Thị Hải Đ trình bày: Chị và anh A có tìm hiểu nhau thời gian 03 tháng, sau đó chung sống với nhau vào ngày 29 tháng 8 năm 2018, không có đăng ký kết hôn. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến tháng 12 năm 2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là cuộc sống không phù hợp nên chị và anh A đã ly thân từ tháng 3 năm 2019 cho đến nay. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên chị xin ly hôn với anh Nguyễn Tấn A.

Về con chung: Quá trình chung sống, chị và anh A không có con chung, chị không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Tại lời trình bày của anh Nguyễn Tấn A: Anh A xác nhận thời gian, điều kiện chung sống, con chung, nguyên nhân mâu thuẩn, thời gian xa nhau là đúng theo lời trình bày của chị Lê Thị Hải Đ.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Nay chị Đ xin ly hôn, anh đồng ý. Đối với con chung, tài sản chung và nợ chung không có, anh không yêu cầu giải quyết.

Do điều kiện anh bận đi làm ăn xa, nên anh đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, anh cam kết không khiếu nại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Chị Lê Thị Hải Đ khởi kiện yêu cầu được ly hôn với Nguyễn Tấn A, anh Nguyễn Tấn A có hộ khẩu thường trú tại ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh L và hiện đang có mặt tại địa phương nên Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Tại phiên tòa, bị đơn anh Nguyễn Tấn A xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đ và anh A có tìm hiểu nhau thời gian 03 tháng, sau chung sống với nhau vào tháng 8 năm 2018 nhưng không có đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống hạnh phúc, đến tháng 12 năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do cuộc sống không phù hợp nên chị Đ và anh A xa nhau từ tháng 3 năm 2019 cho đến nay.

Thấy rằng, Chị Đ và anh A chung sống vào năm 2018, nhưng hai anh chị không có đăng ký kết hôn. Do đó hôn nhân của chị Đ và anh A đã vi phạm vào Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên không được xem là hôn nhân hợp pháp. Tại phiên tòa, chị Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn. Đối với anh A đề nghị xét xử vắng mặt, nhưng tại Bản tự khai anh A trình bày anh đồng ý ly hôn. Do anh A và chị Đ không có đăng ký kết hôn nên Hội đồng xét xử không công nhận chị Lê Thị Hải Đ và anh Nguyễn Tấn A là vợ chồng.

[4]. Về con chung: Chị Đ và anh A không có con chung nên không xem xét giải quyết là phù hợp.

[5] Về tài sản chung: Chị Đ và anh A xác định không có tài sản chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về nợ chung: Chị Đ và anh A khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về án phí: Chị Lê Thị Hải Đ phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 9, Điều 14 và Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Hải Đ đối với anh Nguyễn Tấn A về việc “Ly hôn”.

- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhân chị Lê Thị Hải Đ và Nguyễn Tấn A là vợ chồng.

2. Về án phí: Chị Lê Thị Hải Đ phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung công quỹ Nhà nước nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0004787 ngày 03/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh Long An sang án phí để thi hành. Chị Đ không phải nộp tiếp.

Án xử sơ thẩm và tuyên án công khai, nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

242
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 130/2019/HNGĐ-ST ngày 26/06/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:130/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Hòa - Long An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 26/06/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về