Bản án 126/2017/HSST ngày 27/07/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HD, TỈNH HD

BẢN ÁN 126/2017/HSST NGÀY 27/07/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 27 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố HD, tỉnh HD, Tòa án nhân dân thành phố HD, tỉnh HD mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 121/2017/HSST ngày 06 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo:

Trần Văn C, sinh năm 1980.

Đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 187C QT, phường QT, thành phố HD, tỉnh HD. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh. Con ông Trần Văn B và bà Nguyễn Thị Ng. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/5/2017 chuyển tạm giam ngày 30/5/2017 đến nay tại trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh HD. Có mặt.

NHẬN THẤY

Bị cáo Trần Văn C, bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Trần Văn C là người nghiện ma túy, khoảng 08 giờ 30 phút ngày 28/5/2017, C đi bộ đến khu vực khách sạn HD, phường Bình Hàn, TP. HD mua được 01 gói Hêrôin với số tiền 100.000đồng của một người phụ nữ không rõ tên, địa chỉ. Sau khi mua được gói Hêrôin, C cất giấu vào trong người rồi đi tìm nơi sử dụng. Khoảng 09 giờ cùng ngày, khi C đi đến khu vực cổng nghĩa trang nhân dân khu đô thị Tuệ Tĩnh, phường Bình Hàn, TP. HD thì bị Đội cảnh sát điều tra về tội phạm về ma túy Công an TP. HD phát hiện bắt quả tang, C tự giác giao nộp 01 gói giấy màu bạc trắng có chữ in, kích thước 0,5 x 1cm bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng trước sự chứng kiến của anh Trần Anh T và anh Vũ Thế C1.

Tại Kết luận giám định số 155/KLGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh HD kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng, ghi thu của Trần Văn C gửi đến giám định có trọng lượng là 0,160  gam là Hêrôin, chất ma túy nằm trong danh mục I, STT: 20, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Về vật chứng: Đối với 0,109gam Hêrôin hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói được niêm phong trong phong bì số 155/PC54 đang được quản lý tại kho vật chứng của Cơ quan CSĐT Công an TP. HD chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số 124/VKS-HS ngày 5/7/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD truy tố bị cáo Trần Văn C về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD tại phiên tòa sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD truy tố bị cáo Trần Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đề nghị Hội đồng xét xử  áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 - Bộ luật Hình sự 1999; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 về hiệu lực thi hành của Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13; Công văn số 148/TANDTC-PC ngày 12/7/2017 của TAND tối cao về triển khai, thi hành BLHS năm 2015 và Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7 và khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Trần Văn C từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/5/2017; Hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu cho tiêu hủy 0,109 gam Hêrôin hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói hoàn lại sau giám định. Về án phí: áp dụng Điều 99 của Bộ luật  tố  tụng  hình  sự;  Luật  phí  và  lệ  phí  năm  2015;  Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

XÉT THẤY

Lời khai nhận hành vi của bị cáo Trần Văn C tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang, kết luận giám định, tang vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ ngày 28/5/2017 tại khu vực cổng nghĩa trang khu đô thị Tuệ Tĩnh, phường Bình Hàn, TP. HD, Trần Văn C đang cất giữ trái phép trong người 0,160 gam Hêrôin để sử dụng thì bị Đội CSĐT tội phạm về ma túy Công an TP. HD phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Bị cáo Trần Văn C có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ ma túy Hêrôin là chất bị Nhà nước cấm lưu hành nhưng vẫn cố ý tàng trữ trái phép để sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân song vì coi thường pháp luật nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Như vậy, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố HD truy tố  bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do vậy có đủ cơ sở để xét xử bị cáo Trần Văn C về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội được pháp luật bảo vệ. Chất ma tuý có tính chất kích thích thần kinh có tác hại rất lớn đến con người cũng như sự an toàn của xã hội. Nó không chỉ là nguyên nhân lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV- AIDS mà còn là mầm mống, nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của các thế hệ, ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục, truyền thống đạo đức của dân tộc.

Xét bị cáo mặc dù không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu là đối tượng nghiện ma tuý đã hai lần bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh và cai nghiện bắt buộc vào năm 2005, 2009, đã hai lần bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào năm 2005, 2008 đều đã chấp hành xong. Tuy đây không phải là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng Hội đồng xét xử phân tích để bị cáo biết làm bài học tu dưỡng rèn luyện bản thân.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:  Khi lượng hình Hội đồng xét xử nhận thấy tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo Trần Văn C đều rất thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình và thật sự ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện sự nhân đạo của pháp luật. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đồng thời theo Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 về hiệu lực thi hành của Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13; Khoản 3 Điều 7 BLHS 2015; khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 thì thấy theo quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 quy định mức hình phạt đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là từ 02 năm đến 07 năm tù, nhưng tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định mức hình phạt đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là từ 01 năm đến 05 năm tù, quy định này có lợi hơn cho người phạm tội. Do vậy Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng phần hình phạt có lợi theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng ren đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân sống biết chấp hành và tuân thủ pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nào khác và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đối với  0,109 gam Hêrôin hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói hoàn lại sau giám định. Xét đây là chất cấm lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với người bán ma túy cho C quá trình điều tra không làm rõ được nên không có căn cứ xử lý là phù hợp.

Về án phí: Căn cứ khoản 1, 2  Điều 99 của  Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194, điểm p khoản 1  Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 về hiệu lực thi hành của Bộ luật tố tụng hình sự số 101/2015/QH13; Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015; khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo Trần Văn C  16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/5/2017.

2. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a, đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu và tiêu hủy 0,109 gam Hêrôin hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói hoàn lại sau giám định đựng trong 01(một) phong bì số 155/PC 54 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh HD, bên trong là mẫu vật hoàn lại sau giám định (Đặc điểm, chủng loại, số lượng, trọng lượng, tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/7/2017 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an TP. HD và Chi cục thi hành án dân sự TP. HD).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 1, 2 Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử  dụng án phí và lệ phí Tòa án.  Buộc bị cáo Trần  Văn C phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 231, 234 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.


82
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về