Bản án 125/2019/HNGĐ-ST ngày 05/12/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 125/2019/HNGĐ-ST NGÀY 05/12/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 05 tháng 12 năm2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện BĐ, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khaivụ án thụ lý số: 519/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2019 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 210/2019/QĐXX-ST ngày 05 tháng 11 năm 2019 và quyết định hoãn phiên Tòa số :123/2019/QĐST-HN ngày 12/11/2019 giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Lệ T, sinh năm 1976 (Có mặt).

Đa chỉ: ấp Tân Định, xã ĐT, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Anh Trần Thanh V, sinh năm 1982 (Vắng mặt).

Đa chỉ: ấp Tân Định, xã ĐT, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/9/2019 và những lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên Tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Lệ T trình bày:

Chị và Anh V chung sống với nhau năm 2010 trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn .Thới gian đầu chung sống hạnh phúc, đến tháng 5/2014thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do anh V thường xuyên nhậu nhẹt, không chăm lo cuộc sống gia đình, hay ghen tuôn vô cớ và cũng từ đó chị và anh V ly thân nhau cho đến nay. Hiện tại chị xác định không còn tình cảm với anh V nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: có 02 con chung tên Trần Thanh Hà, sinh ngày 08/02/2009 và Trần Thanh Hải, sinh ngày 20/5/2012. Các con đang sống với anh V, chị T yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: chị T khai không có nên không yêu cầu giải quyết.

Anh Trần Thanh V vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không có lời trình bày.

Ti Tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về việc tuân pháp luật tố tụng: Đi với Thẩm phán có chấp hành tốt theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, thực hiện đúng các nguyên tắc do pháp luật quy định. Đối với những người tham gia tố tụng thì nguyên đơn có chấp hành tốt, riêng bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt là vi phạm nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tuyền.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của kiểm sát viên. HĐXX nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Trần Thanh V được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt không rõ lý do, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án là phù hợp với Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Lệ T và Trần Thanh V chung sống với nhau vào năm 2010 có đăng ký kết hôn, nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc sau đó thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân theo chị T xác định do anh V không lo cho gia đình, ghen tuông vô cớ nên chị và anh V đã không còn chung sống với nhau từ 4/2014 cho đến nay. Từ lúc ly thân đến nay mỗi người đều có cuộc sống độc lập, không ai quan tâm đến ai điều đó chứng tỏ hôn nhân giữa chị T và anh V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu ly hôn với anh V là có căn cứ, phù hợp với Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên Tòa, chị T xác định, trong thời gian sống chung chị và anh V có 02 con chung tên Trần Thanh Hà, sinh ngày 08/02/2009 và Trần Thanh Hải, sinh ngày 20/5/2012, hiện 02 con chung đang sống với anh V và cha mẹ chồng chị tại ấp 4, xã ĐT, huyện BĐ, tỉnh Bến Tre, nếu ly hôn chị yêu cầu được nuôi con chung không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu này của chị T nhận thấy: Việc nuôi dưỡng con chung sau khi ly hôn là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, tại biên bản ghi ý kiến con chung, cháu Hà và cháu Hải đều có nguyện vọng sống với anh V. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án V vắng mặt, anh V làm ăn xa không thường xuyên ở gần con chung, hiện tại các cháu cần có người chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, nhằm để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung nên để chị T được nuôi con chung là phù hợp với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Ghi nhận chị T nuôi con không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T khai không có nên không xét đến.

[3] Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: chị Tuyền phải chịu án phí là 300.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 227Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Lệ T đối với anh Trần Thanh Vũ, chị Nguyễn Thị Lệ Tuyền được ly hôn với anh Trần Thanh Vũ.

2. Về con chung: Giao con chung tên Trần Thanh Hà, sinh ngày 08/02/2009 và Trần Thanh Hải, sinh ngày 20/5/2012 cho chị Nguyễn Thị Lệ T nuôi dưỡng, ghi nhận chị T không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.

Anh Trần Thanh V không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai được cản trở. Trong thời gian con chung của chị T và anh V chưa tròn 18 tuổi, chị T được quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, anh V được quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Lệ T khai không có, nên không xét đến.

4. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Lệ T phải chịu 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp theo biên lai thu số 0006005 ngày 02/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Vậy án phí chị T đã nộp đủ.

Chị Tuyền được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Anh V vắng mặt, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.


14
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 125/2019/HNGĐ-ST ngày 05/12/2019 về ly hôn

Số hiệu:125/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bình Đại - Bến Tre
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 05/12/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về