Bản án 123/2019/HSST ngày 26/09/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 123/2019/HSST NGÀY 26/09/2019 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 26 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Long Châu, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, Tòa án nhân dân huyện Yên Phong tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 125/2019/HSST ngày 28/8/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 121/2019/QĐXXST-HS ngày 13/9/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1980;

Nơi cư trú: Thôn Chi Long, xã Long Châu, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Tường, sinh năm 1943 và bà Nguyễn Thị Tính, sinh năm 1943; Vợ: Nguyễn Thị Huệ, sinh năm 1981; Con: bị cáo có 01 con sinh năm 2000. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại bản án số 02/2013/HSST ngày 07/01/2013 của TAND huyện Yên Phong xử phạt T 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. T đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 07/01/2014.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/4/2019 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 17/4/2019, tại trước cửa lán của Nguyễn Văn T ở thôn Chi Long, xã Long Châu, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, lực lượng Công an huyện Yên Phong phối hợp với Công an xã Long Châu tiến hành bắt quả tang Nguyễn Văn T đang có hành vi bán trái phép 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa ma túy đá cho Nguyễn Duy Đ. Ngoài ra, lực lượng công an còn thu giữ tại túi quần nhỏ phía trước bên phải của đang mặc 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu hồng. Lực lượng công an đã tiến hành niêm phong vật chứng, sau đó đã đưa các đối tượng về trụ sở công an xã Long Châu lập biên bản phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng.

Vật chứng thu giữ được gồm: 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng được niêm phong và phong bì thư ký hiệu M; 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu hồng, được niêm phong và phong bì thư ký hiệu M1; 01 tờ pholime mệnh giá 200.000 đồng có số seri MJ 10997282.

Qua khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật, tài liệu của Nguyễn Văn T thu giữ:

- 03 túi nilon màu trắng bên trong mỗi túi đều chứa 02 viên nén hình tròn màu hồng và các hạt tinh thể màu trắng trong hộp nhựa màu đen đặt tại hốc bên trái của cục loa trầm;

- 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng trong ống nhựa dán băng dính màu đen, đặt phía sau tủ sắt;

- 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa 19 viên nén hình tròn màu hồng thu trong lọ thủy tinh đặt trên mặt tủ sắt;

- 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa 02 viên nén hình tròn màu hồng và các hạt tinh thể màu trắng thu tại mép thành khung sắt của lán;

- 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng thu trong ống sắt khung sắt của lán.

Toàn bộ các túi nilon thu giữ tại lán của T được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M2.

Ti kết luận giám định số 389/KLGĐMT-PC09 ngày 18/4/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận:

- Các hạt tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M có khối lượng 0,0527 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Methamphetamine.

- Các bột màu hồng được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M1có khối lượng 0,1168 gam; Là ma túy; Loại ma túy Methamphentamine.

- Các viên nén hình tròn màu hồng được niêm phong trong phong bì thư kí hiệu M2 có khối lượng 2,5950 gam; Là ma túy; Loại ma túy Methamphetamine.

Tổng khối lượng Methamphemtamine thu giữ được là 7,9235 gam. Tại Cáo trạng số 123/CT - VKS ngày 27/8/2019 của VKSND huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh truy tố Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Ti phiên toà, bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố hành vi phạm tội của bị cáo là đúng và khai nhận: Hồi 19 giờ ngày 17/4/2019, Nguyễn Văn T đang ở tại lán của T tại khu đất mới thuộc địa phận thôn Chi Long, xã Long Châu, Yên Phong, Bắc Ninh thì Nguyễn Duy Đ và Nguyễn Duy Quyền đến lán của T, Đ hỏi mua 200.000 đồng ma túy đá. Đ đưa cho T một tờ polime mệnh giá 200.000 đồng, T cầm tiền và đưa lại cho Đ 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng. Đ cầm túi ma túy ở lòng bàn tay phải, đúng lúc này, lực lượng công an tiến hành kiểm tra bắt giữ. Ngoài số ma túy bán cho Đ, T còn cất giữ ma túy trong người và tại nơi ở, mục đích để bán kiếm lời. Nguồn gốc số ma túy trên là do T mua của một người không quen biết tại khu công nghiệp Yên Phong, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh với giá 3.000.000 đồng.

Đại diện VKSND huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên tòa khẳng định: Khoảng 19 giờ ngày 17/4/2019 tại trước cửa lán của Nguyễn Văn T ở khu đất mới thôn Chi Long, xã Long Châu, huyện Yên Phong, Nguyễn Văn T đã có hành vi bán trái phép 0,0527 gam Methamphentamine cho Nguyễn Duy Đ với giá 200.000 đồng. Ngoài ra, T còn cất giữ 7,8708 gam Methamphemtamine mục đích bán kiếm lời, nên đã giữ nguyên bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố Nguyễn Văn T tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

Sau khi phân tích tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo đã đề nghị HĐXX áp dụng điểm i khoản 2, 5 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tuyên phạt bị cáo với mức án từ 08 đến 09 năm tù. Áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền 5.000.000 đồng đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ số ma tuý còn lại sau giám định. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 200.000đồng.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Li nói sau cùng của bị cáo: Xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo tại phiên toà;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Li khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với kết quả tranh luận tại phiên tòa thể hiện: Khoảng 19 giờ ngày 17/4/2019 tại trước cửa lán của Nguyễn Văn T ở khu đất mới thôn Chi Long, xã Long Châu, huyện Yên Phong, Nguyễn Văn T đã có hành vi bán trái phép 0,0527 gam Methamphentamine cho Nguyễn Duy Đ với giá 200.000 đồng. Ngoài ra, T còn cất giữ 7,8708 gam Methamphemtamine mục đích bán kiếm lời. Do vậy đại diện VKSND huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên toà đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tng khối lượng ma túy bị cáo bán và tàng trữ mục đích để bán kiếm lời là 7,9235 gam Methamphetamine nên hành vi của bị cáo phạm vào điểm i khoản 2 Điều 251 BLHS.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, tiếp tay cho những người nghiện ma túy, nghiện ma túy là một trong những nguyên nhân phạm tội cũng như các tệ nạn xã hội khác. Chính vì vậy, hành vi của bị cáo xử lý nghiêm nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Không có tình tiết tăng nặng đối với bị cáo.

Tuy vậy bị cáo có nhân thân xấu: Tại bản án số 02/2013/HSST ngày 07/01/2013 của TAND huyện Yên Phong xử phạt T 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 07/01/2014.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo xuất thân từ nhân dân lao động, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội, bố đẻ bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS, nên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Căn cứ tính chất vụ án cần buộc bị cáo cách ly xã hội một thời gian nhằm cải tạo và giáo dục đối với bị cáo.

Bị cáo mua bán ma túy với số lượng 7,9235 gam Methamphetamine nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: 5,4525 gam Methamphetamine là số ma túy còn lại sau giám định. Đây là vật chứng liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội, giá trị sử dụng không có nên cần tịch thu tiêu huỷ. Số tiền 200.000đồng thu tại túi quần phía trước T đang mặc là tiền T bán ma túy có được. Đây là số tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Liên quan trong vụ án còn có người đàn ông đã bán ma túy cho T nhưng T khai không quen biết người này nên cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra xử lý.

Đối với Nguyễn Duy Đ là người đã trực tiếp mua ma túy của T và Nguyễn Duy Quyền là người đi cùng Đ, sau khi làm việc tại cơ quan điều tra, lợi dụng sơ hở của cán bộ trông giữ nên Đ và Quyền đã bỏ trốn, cơ quan cảnh sát điều tra huyện Yên Phong đã tiến hành xác minh tại xã Tam Giang thì không có đối tượng nào tên Nguyễn Duy Đ và Nguyễn Duy Quyền có lý lịch như Đ và Quyền khai nhận, vì vậy cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra, xử lý.

Bị cáo phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng điểm i khoản 2, 5 Điều 251; điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 BLHS; Điều 106; Điều 136; Điều 329 BLTTHS;

Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử phạt: Nguyễn Văn T 08(tám) năm 06(sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thi hạn tù được tính từ ngày 17/4/2019. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án ( 26/9/2019) theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 5,4525 gam Methamphetamine còn lại sau giám định. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 tờ pholime mệnh giá 200.000 đồng có số seri MJ 10997282.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


9
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 123/2019/HSST ngày 26/09/2019 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:123/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Phong - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 26/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về